THƠ THIỀN ĐỜI LÝ TRẦN Việt dịch: HUYỀN THANH 示寂偈 THỊ TỊCH KỆ 木中原有火 Mộc trung nguyên hữu hỏa 有火火還生 Hữu hỏa, hỏa hoàn sinh 若謂木無火 Nhược vị mộc vô hỏa 鑽遂何由萌 Toản toại hà do manh ? 禪師 框越 Thiền Sư KHUÔNG VIỆT KỆ DẠY LÚC NHẬP DIỆT Trong cây nguyên có lửa Có lửa, lửa lại sinh Nếu nói cây không lửa Dùi xát do đâu sinh ? 示寂偈 THỊ TỊCH KỆ 身如電影有還無 Thân như điện ảnh, hữu hoàn vô 萬木春榮秋又枯 Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô 任運盛衰無怖畏 Nhậm vận thịnh suy vô bố úy 盛衰如露草頭鋪 Thịnh suy như lộ thảo đầu phô 禪師 萬行 Thiền sư VẠN HẠNH KỆ DẠY LÚC NHẬP DIỆT Thân như ánh điện, có rồi không Cây cối thu khô, xuân thắm hồng Tùy vận thịnh suy không sợ hãi Thịnh suy, đầu cỏ điểm hơi sương 示寂偈 THỊ TỊCH KỆ 本來無處所 Bản lai vô xứ sở 處所是真宗 Xứ sở thị chân tông 真宗如是幻 Chân tông như thị huyễn 幻有即空空 Huyễn hữu tức không không 禪師 定香 Thiền sư ĐỊNH HƯƠNG KỆ DẠY LÚC NHẬP DIỆT Xưa nay không nơi chốn Nơi chốn là chân tông Chân tông như là huyễn Huyễn có tức rỗng không 吿疾示衆 CÁO TẬT THỊ CHÚNG 春去百花落 Xuân khứ bách hoa lạc 春到百花開 Xuân đáo bách hoa khai 事逐眼前過 Sự trục nhãn tiền quá 老從頭上來 Lão tùng đầu thượng lai 莫謂春殘花落盡 Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận 庭前昨夜一枝梅 Đình tiền tạc dạ nhất chi mai 禪師 滿覺 Thiền Sư MÃN GIÁC BÁO BỆNH DẠY CHÚNG Xuân đi trăm hoa rụng Xuân đến nở trăm hoa Việc đời qua trước mắt Già theo đến trên đầu Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết Ngoài sân đêm trước một nhành mai 用心學道 DỤNG TÂM HỌC ĐẠO 般若真無宗 Bát Nhã chân vô tông 人空我亦空 Nhân không, Ngã diệc không 過現未來佛 Quá hiện vị lai Phật 法性本來同 Pháp Tính bản lai đồng 李太宗 Vua LÝ THÁI TÔNG DÙNG TÂM HỌC ĐẠO Bát Nhã thật không tông Người không, ta cũng không Ba đời tất cả Phật Pháp Tính xưa nay đồng 示弟子本寂 THỊ ĐỆ TỬ BẢN TỊCH 眞性常無眞 Chân tính thường vô tính 何曾有生滅 Hà tằng hữu sinh diệt 身是生滅法 Thân thị sinh diệt Pháp 法性未曾滅 Pháp tính vị tằng diệt 禪師 純眞 Thiền Sư THUẦN CHÂN DẠY ĐỆ TỬ BẢN TỊCH Chân Tính thường không Tính Chưa từng có sinh diệt Thân là Pháp sinh diệt Pháp Tính chưa từng diệt 答李太宗用心之問 ĐÁP LÝ THÁI TÔNG DỤNG TÂM CHI VẤN 法本如無法 Pháp bản như vô pháp 非有亦非空 Phi hữu diệc phi không 若人知此法 Nhược nhân tri thử Pháp 衆生與佛同 Chúng sinh dữ Phật đồng 寂寂楞伽月 Tịch tịch Lăng Già nguyệt 空空度海舟 Không không độ hải chu 知空空覺有 Tri không không , giác hữu 三昧任通週 Tam muội nhậm thông châu 禪師 慧生 Thiền sư HUỆ SINH TRẢ LỜI CÂU HỎI “DÙNG TÂM” CỦA LÝ THÁI TÔNG Pháp vốn như không Pháp Chẳng có cũng chẳng không Nếu người biết Pháp đấy Chúng sinh với Phật đồng Trăng Lăng Già lặng lẽ Thuyền vượt biển rỗng không Biết rỗng không, hiểu có Tam Muội tùy thong dong 答法容色空凡聖之問 ĐÁP PHÁP DUNG SẮC KHÔNG PHÀM THÁNH CHI VẤN 勞生休問色兼空 Lao sinh hưu vấn sắc kiêm không 學無如訪祖宗 Học đạo vô như phỏng Tổ Tông 天外覓心難定體 Thiên ngoại mịch tâm nan định thể 人間植桂豈成叢樷 Nhân Gian thực quế khởi thành tùng 乾坤盡是毛頭上 Càn Khôn tận thị mao đầu thượng 日月包含芥子中 Nhật Nguyệt bao hàm giới tử trung 大用現前拳在手 Đại dụng hiện tiền quyền tại thủ 誰知凡聖與西東 Thùy tri Phàm Thánh dữ Tây Đông 禪師 慶喜 Thiền Sư KHÁNH HỶ TRẢ LỜI PHÁP DUNG HỎI VỀ SẮC KHÔNG VÀ PHÀM THÁNH Mệt đời, ngưng hỏi Sắc và Không Học Đạo không như hỏi Tổ Tông Trời đất tìm Tâm khôn định Thể Người đời trồng Quế há gom đông Đầu lông biểu hiện Càn Khôn đủ Hạt cải thâu gom Nhật Nguyệt tròn Đại dụng đời này tay nắm chặt Ai hay Phàm Thánh với Tây Đông 示寂偈 THỊ TỊCH KỆ 生老病死 Sinh lão bệnh tử 自古常然 Tự cổ thường nhiên 欲求出離 Dục cầu xuất ly 解縛添纏 Giải phộc thiêm triền 迷之求佛 Mê chi cầu Phật 惑之求禪 Hoặc chi cầu Thiền 禪佛不求 Thiền Phật bất cầu 枉口無言 Uổng khẩu vô ngôn 尼師 妙仁 Ni Sư DIỆU NHÂN KỆ DẠY LÚC NHẬP DIỆT Sinh, già, bệnh, chết Lẽ thường xưa nay Muốn cầu lìa khỏi Cởi buộc thêm ràng Mê nên cầu Phật Lầm mới cầu Thiền Thiền Phật chẳng cầu Ngậm miệng không nói 示寂偈 THỊ TỊCH KỆ 身如墙壁圯頹時 Thân như tường bích di đồi thì 舉世匆匆熟不悲 Cử thế thông thông thục bất bi 若達心空無色相 Nhược đạt tâm không, vô sắc tướng 色空隱顯任推移 Sắc không ẩn hiển nhậm suy di 禪師 圓照 Thiền Sư VIÊN CHIẾU KỆ DẠY LÚC NHẬP DIỆT Thân như tường vách đã hư long Vội vã đời quen chẳng não lòng Nếu đạt Tâm không, không sắc tướng Sắc không ẩn hiện mặc xoay vòng 有空 HỮU KHÔNG 作有塵沙有 Tác hữu trần sa hữu 為空一切空 Vi không nhất thiết không 有空為水月 Hữu không vi thủy nguyệt 勿著有空空 Vật trước hữu không không 禪師 慈道行 Thiền Sư TỪ ĐẠO HẠNH CÓ VÀ KHÔNG Gây tạo có, có từng hạt bụi Thực hành không, tất cả cũng không Có Không trăng hiện trong sông Đừng vương dính có, rỗng không làm gì 示寂告大衆 THỊ TỊCH CÁO ĐẠI CHÚNG 秋來不報雁來歸 Thu lai bất báo nhạn lai quy 冷笑人間暫發悲 Lãnh tiếu nhân gian tạm phát bi 為報門人休戀著 Vị báo môn nhân hưu luyến trước 古師幾度作今師 Cổ sư kỷ độ tác kim sư 禪師 慈道行 Thiền Sư TỪ ĐẠO HẠNH LÚC SẮP NHẬP DIỆT BẢO VỚI ĐẠI CHÚNG Thu sang chẳng báo Nhạn về ngay Cười nhạt người đời thoáng tiếc thay Này các Môn Nhân ngừng luyến tiếc Thầy xưa mấy độ hoá thầy nay 言怀 NGÔN HOÀI 擇得龍蛇地可居 Trạch đắc Long Xà địa khả cư 野情終日樂無余 Dã tình chung nhật lạc vô dư 有時直上孤峰頂 Hữu thời trực thượng cô phong đỉnh 長嘯一聲寒太虛 Trường khiếu nhất thanh hàn Thái Hư 禪師 空路 Thiền Sư KHÔNG LỘ NÓI NIỀM ÔM ẤP Chọn đất Long Xà để ẩn cư Tình quê vui suốt thoả tâm tư Có khi lên đỉnh non cô độc Cất tiếng hét dài lạnh Thái Hư 漁閒 NGƯ NHÀN 萬里青江萬里天 Vạn lý thanh giang vạn lý thiên 一村桑柘一村煙 Nhất thôn tang giá nhất thôn yên 漁翁睡著無人喚 Ngư ông thụy trước vô nhân hoán 過午醒來雪满船 Quá Ngọ tinh lai tuyết mãn thuyền 禪師 空路 Thiền Sư KHÔNG LỘ CẢNH NHÀN CỦA ÔNG ĐÁNH CÁ Vạn dặm sông xanh vạn dặm trời Một thôn khói tỏa, xóm dâu tươi Ngư ông say ngủ không người gọi Tỉnh giấc thuyền trưa ngập tuyết rơi 示寂偈 THỊ TỊCH KỆ 春來花蝶善知時 Xuân lai hoa điệp thiện tri thì 花蝶應須共應期 Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ 花蝶本來皆是幻 Hoa điệp bản lai giai thị huyễn 莫須花蝶向心持 Mạc tu hoa diệp hướng tâm trì 禪師 覺海 Thiền Sư GIÁC HẢI KỆ DẠY LÚC NHẬP DIỆT Xuân về khéo biết bướm và hoa Hoa bướm cần nên hợp ứng hòa Hoa bướm xua nay đều huyễn giả Đừng đem tâm giữ bướm và hoa 示衆偈 THỊ CHÚNG KỆ 猿猴抱子歸青嶂 Viên hầu bão tử quy thanh chướng 自古聖賢沒可量 Tự cổ Thánh Hiền một khả lượng 春來鶯轉百花深 Xuân lai oanh chuyển bách hoa thâm 秋至菊開沒模樣 Thu chí cúc khai một mô dạng 禪師 長元 Thiền Sư TRƯỜNG NGUYÊN KỆ DẠY CHÚNG Khỉ Vượn ôm con về núi non Từ xưa Hiền Thánh khó lường đong Xuân về Oanh hót trăm hoa thắm Thu đến tìm quanh, chỉ Cúc còn 了悟身心 LIỄU NGỘ THÂN TÂM 了悟身心開慧眼 Liễu ngộ thân tâm khai tuệ nhãn 變化靈通現實相 Biến hóa linh thông hiện thật tướng 行住坐臥獨卓然 Hành trụ tọa ngọa độc trác nhiên 應現化身不可量 Ứng hiện hóa thân bất khả lượng 雖然充塞遍虛空 Tuy nhiên sung tắc biến hư không 觀來不見如有相 Quan lai bất kiến như hữu tướng 世間無物可比況 Thế gian vô vật khả tỉ huống 長現靈光明朗朗 Trường hiện linh quang minh lãng lãng 常時演說不思議 Thường thời diễn thuyết bất tư nghị 無得一言以為當 Vô đắc nhất ngôn dĩ vi đương 禪師 願學 Thiền Sư NGUYỆN HỌC BIẾT RÕ THÂN TÂM Biết rõ thân tâm bừng mắt Tuệ Hiển thành tướng thật, hóa linh thông Đi đứng nằm ngồi riêng trụ vững Hóa thân ứng hiện thật khôn lường Tuy rằng tràn khắp hư không giới Xem lại dường như tướng chẳng còn Thế gian không vật nào sánh được Thường hiện linh quang sáng tỏ tường Luôn luôn diễn nói khôn bàn luận Không được một câu xứng hợp cùng 示寂偈 THỊ TỊCH KỆ 離寂方言寂滅去 Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ 生無生後說無生 Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh 男兒自有衝天志 Nam nhi tự hữu xung thiên chí 休向如來行處行 Hưu hướng Như Lai hành xứ hành 禪師 廣嚴 Thiền Sư QUẢNG NGHIÊM KỆ DẠY LÚC NHẬP DIỆT Lìa Tịch Diệt mới bàn Tịch Diệt Sinh Vô Sinh hãy nói Vô Sinh Chí trai xông tận trời xanh Đừng nên tiến bước theo hành Như Lai 示寂偈 THỊ TỊCH KỆ 松風水月明 Tùng phong thủy nguyệt minh 無影亦無形 Vô ảnh diệc vô hình 色身這個是 Sắc thân giá cá thị 空空尋響聲 Không không tầm hưởng thinh 禪師 明智 Thiền Sư MINH TRÍ KỆ DẠY LÚC NHẬP DIỆT Gió thông, trăng nước sáng Không ảnh cũng không hình Sắc thân là cái đó Rỗng không tìm tiếng vang 幻法 HUYỄN PHÁP 幻法皆是幻 Huyễn Pháp giai thị huyễn 幻修皆是幻 Huyễn tu giai thị huyễn 二幻皆不即 Nhị huyễn giai bất tức 即是除諸幻 Tức thị trừ chư huyễn 禪師 現光 Thiền Sư HIỆN QUANG PHÁP HUYỄN Pháp huyễn đều là huyễn Tu huyễn đều là huyễn Hai huyễn đều chẳng phải Tức là trừ các huyễn 獻 香 偈 HIẾN HƯƠNG KỆ 沉 水 禪 林 香 馥 郁 Trầm Thủy thiền lâm hương phức úc 旃 檀 慧 菀 舊 栽 培 Chiên Đàn tuệ uyển cựu tài bồi 戒 刀 削 就 聳 山 形 Giới đao tước tựu tủng sơn hình 爇 向 心 爐 長 供 養 Nhiệt hướng tâm lô trường cung dưỡng 陳太宗 Vua TRẦN THÁI TÔNG KỆ DÂNG HƯƠNG Rừng Thiền Trầm Thủy ngát mùi hương Vườn Tuệ Đàn hương khéo vón trồng Đao Giới vót hình non cao tít Luôn hướng lò Tâm mãi cúng dường 獻 花 偈 HIẾN HOA KỆ 心 地 開 時 誇 爛 熳 Tâm địa khai thời khoa lạn mạn 諸 天 雨 處 讓 芬 香 Chư Thiên vũ xứ nhượng phân hương 枝 枝 朵獻佛前 Chi chi đóa đóa hiến Phật tiền 億 劫 業 風 吹 不 落 Ức kiếp nghiệp phong xuy bất lạc 陳太宗 Vua TRẦN THÁI TÔNG KỆ DÂNG HOA Đất Tâm khai mở sáng muôn nơi Thơm ngát hoa tuôn ngập khắp trời Mỗi đóa mỗi cành dâng hiến Phật Muôn đời gió Nghiệp thổi không rơi 寄清風庵僧德山 KÝ THANH PHONG AM TĂNG ĐỨC SƠN 風打松關月照庭 Phong đả tùng quan nguyệt chiếu đình 心期風景共凄清 Tâm kỳ phong cảnh cộng thê thanh 箇中滋味無人識 Cá trung tư vị vô nhân thức 付與山僧賞到明 Phó dữ sơn tăng thưởng đáo minh 陳太宗 Vua TRẦN THÁI TÔNG GỬI SƯ ĐỨC SƠN Ở AM THANH PHONG Gió đập cửa tùng, trăng chiếu sân Cảnh reo rét buốt thấu tâm thần Hương vị lúc này không kẻ biết Giao cho sư núi hưởng canh tàn 宮 園 春 日 懷 舊 CUNG VIÊN XUÂN NHẬT HOÀI CỰU 門 空 塵 掩 徑 生 苔 Môn không trần yểm kính sinh đài 白 晝 沉 沉 少 往 來 Bạch trú trầm trầm thiểu vãng lai 萬 紫 千 紅 空 爛 熳 Vạn tử thiên hồng không lạn mạn 春 花 如 許 爲 誰 開 Xuân hoa như hứa vị thùy khai?… 陳聖 宗 Vua TRẦN THÁNH TÔNG NGÀY XUÂN Ở VƯỜN TRONG CUNG NHỚ NGƯỜI XƯA Cửa ngỏ, bụi rêu phủ lối này Ngày qua chầm chậm ít người hay Ngàn hồng vạn tía chen nhau thắm Xuân nở hoa cười, hứa với ai ?!… 夏 景 HẠ CẢNH 窈 窕 華 堂 晝 影 長 Yểu điệu hoa đường trú ảnh trường 荷 花 吹 起 北 牕 凉 Hà hoa xuy khởi bắc song lương 圜 林 雨 過 綠 成 幄 Viên lâm quá vũ lục thành ác 三 五 蝉 聲 閙 夕 陽 Tam ngũ thiền thanh náo tịch dương 陳聖 宗 Vua TRẦN THÁNH TÔNG CẢNH MÙA HÈ Nhà hoa thăm thẳm bóng ngày vương Cửa bắc vời sen tỏa ngát hương Mưa tạnh vườn rừng xanh thắm mượt Ve kêu rộn rã nắng chiều buông 安定時節 AN ĐỊNH THỜI TIẾT 生死由來罷問程 Sinh tử do lai bãi vấn trình 因緣時節自然成 Nhân duyên thời tiết tự nhiên thành 山雲也有出山勢 Sơn vân dã hữu xuất sơn thế 澗水終無投澗聲 Giản thủy chung vô đầu giản thanh 歲歲花隨三月笑 Tuế tuế hoa tuỳ tam nguyệt tiếu 朝朝鷄向五更鳴 Triêu triêu kê hướng ngũ canh minh 阿誰會得娘生面 A thùy hội đắc nương sinh diện 始信人天總假名 Thủy tín nhân thiên tổng giả danh 慧忠 上士 TUỆ TRUNG Thượng Sĩ THỜI TIẾT AN ĐỊNH Sống chết do đâu, miễn hỏi trình Nhân duyên thời tiết tự nhiên thành Đầu non, mây hiện hình lìa núi Cuối suối, nước không tiếng khởi sanh Vừa đến tháng ba, hoa nhụy nở Dứt xong canh bốn, tiếng gà tranh À! Ai hội được dung nhan mẹ Mới hiểu Người, Trời vốn giả danh 入塵 NHẬP TRẦN 迢迢闊步入塵來 Điều điều khoát bộ nhập trần lai 黄色眉頭鼎鼎開 Hoàng sắc my đầu đỉnh đỉnh khai 北里優游投馬腹 Bắc lý ưu du đầu mã phúc 東家散誕入驢胎 Đông gia tán đản nhập lư thai 金鞭打趂泥牛走 Kim tiên đả sấn nê ngưu tẩu 鐵索牽抽石虎回 Thiết sách khiên trừu thạch hổ hồi 自得一朝風解凍 Tự đắc nhất triêu phong giải đống 百花仍舊唳春臺 Bách hoa nhưng cựu lệ xuân đài 慧忠 上士 TUỆ TRUNG Thượng Sĩ VÀO CÕI TRẦN Xa xa rộng bước đến trần gian Lừng lẫy đầu my lộ ánh vàng Xóm Bắc rong chơi, thai Ngựa đón Nhà Đông tán láo, bụng Lừa mang Roi vàng đánh lấn trâu bùn chạy Dây sắt cùm lôi cọp đá tan Tự được gió lùa băng giá hết Trăm hoa như cũ gọi đài xuân 江湖自適 GIANG HỒ TỰ THÍCH 湖海初心未始磨 Hồ hải sơ tâm vị thủy ma 光陰如箭又如梭 Quang âm như tiễn hựu như thoa 清風明月生涯足 Thanh phong minh nguyệt sinh nhai túc 綠水青山活計多 Lục thủy thanh sơn hoạt kế đa 曉掛孤帆淩汗漫 Hiểu quải cô phàm lăng hãn mạn 晚橫短笛弄煙波 Vãn hoành đoản địch lộng yên ba 謝三今已無消息 Tạ Tam kim dĩ vô tiêu tức 畱得空船閣淺沙 Lưu đắc không thuyền các thiển sa 慧忠 上士 TUỆ TRUNG Thượng Sĩ VUI THÍCH SÔNG HỒ Lòng mơ hồ biển chửa từng khuây Tên bắn thoi đưa đẩy tháng ngày Gió mát trăng trong, đời tính đủ Non xanh nước biếc, sống dư đầy Mù sương sáng sớm, dong buồm đến Khói sóng chiều hôm, thổi sáo bay Dấu vết Tạ Tam nay chẳng thấy Cát lưu thuyền rỗng vẫn còn đây 勸世進道 KHUYẾN THẾ TIẾN ĐẠO 四序循環春復秋 Tứ tự tuần hoàn xuân phục thu 駸駸已老少年頭 Xâm xâm dĩ lão thiếu niên đầu 榮華肯顧一場夢 Vinh hoa khẳng cố nhất trường mộng 歲月空懷萬斛愁 Tuế nguyệt không hoài vạn hộc sầu 若趣輪迴如轉殻 Nhược thú luân hồi như chuyển xác 愛河出沒等浮軀 Ai hà xuất một đẳng phù khu 逢場亦不摸來鼻 Phùng trường diệc bất mạc lai tỵ 無限良緣只麼休 Vô hạn lương duyên chỉ ma hưu 慧忠 上士 TUỆ TRUNG Thượng Sĩ KHUYÊN ĐỜI TIẾN VÀO ĐẠO Bốn tiết xoay vần Xuân lại Thu Già nua mau chóng đến trên đầu Vinh hoa ngó lại một trường mộng Năm tháng ôm suông muôn hộc sầu Lối nẻo luân hồi như vỏ đổi Sông yêu chìm nổi tựa thân hư Gặp trường cũng chẳng sờ lên mũi Duyên tốt không cùng, chỉ dứt ư ?!… 示衆 THỊ CHÚNG 休尋少室與曹溪 Hưu tầm Thiếu Thất dữ Tào Khê 體性明明未有迷 Thể tính minh minh vị hữu mê 古月照非關遠近 Cổ nguyệt chiếu phi quan viễn cận 天風吹不揀高低 Thiên phong xuy bất giản cao đê 秋光黑白隨緣色 Thu quang hắc bạch tùy duyên sắc 蓮葉紅香不著泥 Liên diệp hồng hương bất trước nê 妙曲本來須擧唱 Diệu khúc bản lai tu cử xướng 莫尋南北與東西 Mạc tầm nam bắc dữ đông tây 慧忠 上士 TUỆ TRUNG Thượng Sĩ DẠY CHÚNG Ngưng tìm Thiếu Thất với Tào Khê Thể Tính sáng ngời chửa có mê Trăng cũ gần xa soi chẳng ngại Gió trời cao thấp thổi không chê Thơm hồng sen nở, bùn không dính Đen trắng Thu mang, sắc níu về Diệu khúc xưa nay nên hát xướng Đông Tây Nam Bắc chớ tìm chi !… 示衆 THỊ CHÚNG 世間宜妄不宜眞 Thế gian nghi vọng bất nghi chân 眞妄之心亦是塵 Chân vọng chi tâm diệc thị trần 要得一高超彼岸 Yếu đắc nhất cao siêu bỉ ngạn 好參童子面前人 Hảo tham Đồng Tử diện tiền nhân 慧忠 上士 TUỆ TRUNG Thượng Sĩ DẠY CHÚNG Thế gian thích vọng chẳng ưa chân Tâm vọng hay chân cũng bụi trần Cốt được cao siêu qua bờ ấy Khéo tham Đồng Tử thấy tiền nhân 題精舍 ĐỀ TINH XÁ 踏著關頭未剎那 Đạp trước quan đầu vị sát na 縱橫放語札伽佗 Tung hoành phóng ngữ trát Già Đà 年來筆觜無端甚 Niên lai bút chủy vô đoan thậm 三界如來不柰何 Tam giới Như Lai bất nại hà 慧忠 上士 TUỆ TRUNG Thượng Sĩ ĐỀ TINH XÁ Bước tới cổng chùa chỉ thoáng qua Dọc ngang tuôn chữ, viết Già Đà (Gāthā: Kệ Tụng) Năm về đầu bút không duyên cớ Ba cõi Như Lai chẳng biết à ?!… 柱杖子 TRỤ TRƯỢNG TỬ 日日杖持在掌中 Nhật nhật trượng trì tại chưởng trung 忽然如虎又如龍 Hốt nhiên như hổ hựu như long 拈來卻恐山河碎 Niêm lai khước khủng sơn hà toái 卓起還妨日月蘢 Trác khởi hoàn phương nhật nguyệt lung 三尺雙林何處有 Tam xích song lâm hà xứ hữu 六環地藏快難逢 Lục hoàn Địa Tạng khoái nan phùng 縱然世道崎嶇甚 Túng nhiên thế đạo khi khu thậm 不柰從前勃窣翁 Bất nại tòng tiền Bột Tốt Ông 慧忠 上士 TUỆ TRUNG Thượng Sĩ CHỐNG GẬY THIỀN Chiếc gậy ngày ngày giữ ở tay Thoắt như cọp nhảy tựa rồng bay Nắm về chỉ sợ sơn hà đổ Dựng đứng còn e nhật nguyệt lay Ba thước Sa La đâu có được Sáu khoen Địa Tạng khó tìm thay Đường đời chẳng kể nhiều gai góc Chẳng biết sao theo Phật trước đây ?!… Ghi chú: Bột Tốt Ông tiếng Phạn là Buddhānāṃ có nghĩa là chư Phật hay các vị giác ngộ 頓省 ĐỐN TỈNH 斷知空有不相差 Đoán tri không hữu bất tương sai 生死元從一派波 Sinh tử nguyên tòng nhất phái ba 昨夜明月今夜月 Tạc dạ minh nguyệt kim dạ nguyệt 新年花發故年花 Tân niên hoa phát cố niên hoa 三生倏忽眞風燭 Tam sinh thúc hốt chân phong chúc 九界循環是蟻磨 Cửu giới tuần hoàn thị nghị ma 或問如何爲究竟 Hoặc vấn như hà vi cứu cánh 摩訶般若薩婆訶 Ma Ha Bát Nhã tát bà ha 慧忠 上士 TUỆ TRUNG Thượng Sĩ CHỢT TỈNH Đoán biết Có, Không chẳng khác mà Tử sinh theo mạch sóng tuôn xa Đem qua trăng sáng, đêm nay sáng Năm cũ hoa cười, năm mới ra Chín cõi xoay vần, vòng kiến chạy Ba đời nhanh chóng, gió đèn qua Hoặc hỏi thế nào là cứu cánh? Ma Ha Bát Nhã Tát Bà Ha Ghi chú: Ma Ha Bát Nhã tát bà ha, tiếng Phạn là Mahā-prajñā svāhā mang ý nghĩa là quyết định thành tựu Đại Trí Tuệ nên có thể dịch câu này là: Quyết thành Đại Tuệ hưởng an hòa 自在 TỰ TẠI 藤鼠無端漸漸侵 Đằng thử vô đoan tiệm tiệm xâm 歸來終老寄山林 Quy lai chung lão ký sơn lâm 柴門茆屋居潇灑 Sài môn mao ốc cư tiêu sái 無是無非自在心 Vô thị vô phi tự tại tâm 慧忠 上士 TUỆ TRUNG Thượng Sĩ TỰ TẠI Vô cớ chuột bìm cứ lấn xâm Quay về già yếu gởi sơn lâm Nhà tranh cửa gỗ vui thanh thoát Phải quấy không còn, tự tại tâm 退居 THOÁI CƯ 儻來禍福不單行 Thảng lai họa phúc bất đơn hành 閑卜幽深寄此生 Nhàn bốc u châm ký thử sinh 海國三春迷燕壘 Hải quốc tam xuân mê yến lũy 煙村一雨隔農耕 Yên thôn nhất vũ cách nông canh 多慚身濁逢時濁 Đa tàm thân trọc phùng thời trọc 小賴心清遇國清 Tiểu lại tâm thanh ngộ quốc thanh 夜夢觀音入荒草 Dạ mộng Quán Âm nhập hoang thảo 秋江清淺露華橫 Thu giang thanh thiển lộ hoa hoành 慧忠 上士 TUỆ TRUNG Thượng Sĩ LUI VỀ Ở ẨN Nếu về họa phúc sẽ đi chung Chọn chốn thâm sâu để sống cùng Miền biển, xuân về mê lũy én Xóm mây, mưa xuống lánh đồng nương Thẹn cho thân đục nơi đời đục Nương chút lòng trong gặp nước trong Đêm mộng Quán Âm vào cỏ dại Sông Thu xanh nhạt đón hoa sương 脫世 THOÁT THẾ 翻身一擲出焚蘢 Phiên thân nhất trịch xuất phần lung 萬事都盧入眼空 Vạn sự đô lô nhập nhãn không 三界茫茫心了了 Tam giới mang mang tâm liễu liễu 月華西没日昇東 Nguyệt hoa tây một nhật thăng đông 慧忠 上士 TUỆ TRUNG Thượng sĩ THOÁT ĐỜI Nghiêng thân nhảy thoát lửa bao vòng Muôn việc đều vào mắt rỗng không Ba cõi mênh mang, tâm thấu tỏ Hoa trăng Tây lặn, ló vầng Đông 江湖自適 GIANG HỒ TỰ THÍCH 小艇長江蕩漾孚 Tiểu đỉnh trường giang đãng dạng phù 悠揚棹撥過灘頭 Du dương trạo bát quá than đầu 一聲何處新來鴈 Nhất thanh hà xứ tân lai nhạn 陟覺秋風徧十洲 Trắc giác thu phong biến thập châu 慧忠 上士 TUỆ TRUNG Thượng Sĩ VUI THÍCH SÔNG HỒ Thuyền nhỏ sông dài nổi sóng đưa Du dương chèo nhịp, thác ghềnh qua Nơi nào tiếng nhạn vừa vang lại Thu động mười châu ngập gió lùa 春曉 XUÂN HIỂU 睡起啟窻扉 Thụy khởi khải song phi 不知春已歸 Bất tri xuân dĩ quy 一雙白蝴蝶 Nhất song bạch hồ điệp 拍拍趂花飛 Phách phách sấn hoa phi 陳仁宗 Vua TRẦN NHÂN TÔNG SÁNG SỚM MÙA XUÂN Thức dậy ra mở cửa Xuân về vẫn chẳng hay Một đôi bươm bướm trắng Phấp phới dựa hoa bay 閨怨 KHUÊ OÁN 睡 起 鈎 簾 看 墜 紅 Thụy khởi câu liêm khán trụy hồng 黄 鸝 不 語 怨 東 風 Hoàng Ly bất ngữ oán Đông phong 無 端 落 日 西 樓 外 Vô đoan lạc nhật Tây lâu ngoại 花 影 枝 頭 盡 向 東 Hoa ảnh chi đầu tận hướng Đông 陳仁宗 Vua TRẦN NHÂN TÔNG NỖI OÁN HẬN CỦA NGƯỜI TRONG PHÒNG KHUÊ Thức dậy cuốn rèm ngắm lá rơi Chim Oanh chẳng hót, oán xuân rồi Mặt trời vô cớ lầu Tây lặn Đầu bóng về Đông, hoa hướng soi 武 林 秋 晚 VŨ LÂM THU VÃN 畫 橋 捯影蘸溪橫 Họa kiều đảo ảnh trám khê hoành 一 抹 斜 陽 水 外 明 Nhất mạt tà dương thủy ngoại minh 寂 寂 千 山 紅 葉 落 Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc 濕 雲 和 露 送 鐘 聲 Thấp vân hòa lộ tống chung thanh 陳仁宗 Vua TRẦN NHÂN TÔNG CHIỀU THU Ở LÀNG VŨ LÂM Suối khe vẽ ngược ảnh cầu treo Che bóng dòng xuôi chút nắng chiều Lá đỏ rụng rơi ngàn núi vắng Mây mù sương phủ, tiễn chuông kêu 登寳苔山 ĐĂNG BẢO ĐÀI SƠN 地僻臺逾古 Địa tịch đài du cổ 時來春未深 Thời lai xuân vị thâm 雲山襄遠近 Vân sơn tương viễn cận 花徑半晴陰 Hoa kính bán tình âm 萬事水流水 Vạn sự thủy lưu thủy 百年心語心 Bách niên tâm ngữ tâm 倚欄橫玉笛 Ỷ lan hoành ngọc địch 明月滿胸襟 Minh nguyệt mãn hung khâm 陳仁宗 Vua TRẦN NHÂN TÔNG LÊN NÚI BẢO ĐÀI Đất vắng đài thêm cũ Thời đến xuân chưa nồng Mây núi gần xa hiện Lối hoa rợp nửa đường Muôn việc nước đưa nước Trăm năm lòng bảo lòng Dựa lan can nâng sáo Ngực chứa đầy trăng trong 天 長 晚望 THIÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG 村 後 村 前 澹 似 烟 Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên 半 無 半 有 夕 陽 邊 Bán vô bán hữu tịch dương biên 牧 童 笛 裡 牛 歸 盡 Mục đồng địch lý ngưu quy tận 白 鹭雙飛下田 Bạch lộ song song phi hạ điền 陳仁宗 Vua TRẦN NHÂN TÔNG NGẮM CẢNH CHIỀU Ở THIÊN TRƯỜNG Thôn trước thôn sau tựa khói nhòa Nửa không nửa có, ráng chiều qua Mục đồng thổi sáo, trâu về hết Cò trắng từng đôi xuống ruộng đùa 題普明寺水榭 ĐỀ PHỔ MINH TỰ THỦY TẠ 薰盡千頭滿座香 Huân tận thiên đầu mãn tọa hương 水流初起不多凉 Thủy lưu sơ khởi bất đa lương 老榕影裡僧關閉 Lão dung ảnh lý tăng quan bế 第一蟬聲秋思長 Đệ nhất thiền thanh thu tứ trường 陳仁宗 Vua TRẦN NHÂN TÔNG ĐỀ NHÀ THỦY TẠ CỦA CHÙA PHỔ MINH Ngàn hương xông hết ngát thơm tòa Nước mới khơi dòng, mát thoáng qua Trong bóng Đa già, sư đóng cửa Tiếng ve gợi dẫn ý Thu xa 月 NGUYỆT 半牕燈影滿床書 Bán song đăng ảnh mãn sàng thư 露滴秋庭夜氣虚 Lộ trích thu đình dạ khí hư 睡起砧聲無覓處 Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ 木樨花上月來初 Mộc Tê hoa thượng nguyệt lai sơ 陳仁宗 Vua TRẦN NHÂN TÔNG TRĂNG Đèn soi nửa cửa, sách đầy giường Đêm vắng sân Thu lác đác sương Thức dậy đâu đây chày đập vải Trên bông hoa Quế, ánh trăng non 大覽神光寺 ĐẠI LÃM THẦN QUANG TỰ 神光寺杳興偏幽 Thần Quang tự diểu hứng thiên u 撐兔飛烏天上游 Xanh thố phi ô thiên thượng du 十二樓臺開畫軸 Thập nhị lâu đài khai họa trục 三千世界入詩眸 Tam thiên thế giới nhập thi mâu 俗多變態雲蒼狗 Tục đa biến thái vân thương cẩu 松不知年僧白頭 Tùng bất tri niên tăng bạch đầu 除卻炷香參佛事 Trừ khước chú hương tham Phật sự 些餘念了總休休 Tá dư niệm liễu tổng hưu hưu 陳仁宗 Vua TRẦN NHÂN TÔNG CHÙA THẦN QUANG TRÊN NÚI ĐẠI LÃM Thần Quang cao ngất ẩn thâm sâu Nâng Nhật đưa trăng dạo địa cầu Một tá lâu đài, tranh vẽ tạo Ba ngàn thế giới, mắt thơ lưu Tục thay nhiều nếp, mây thương cẩu Thông chẳng biết năm, tăng bạc đầu Trừ bỏ đốt hương, tham việc Phật Ngừng nương niệm khác dứt lo âu 示寂偈 THỊ TỊCH KỆ 萬緣裁斷一身閒 Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn 四十餘年夢幻間 Tứ thập dư niên mộng huyễn gian 珍重諸人休借問 Trân trọng chư nhân hưu tá vấn 那邊風月更邇寬 Na biên phong nguyệt cánh nhĩ khoan 禪師 法螺 Thiền Sư PHÁP LOA KỆ DẠY LÚC NHẬP DIỆT Vạn duyên chọn cắt, một thân nhàn Hơn bốn mươi năm mộng huyễn mang Kính bảo mọi người ngưng dựa hỏi Bờ kia trăng gió rất thênh thang 菊花 CÚC HOA 忘身忘世已都忘 Vong thân vong thế dĩ đô vong 坐久蕭然一搨凉 Tọa cửu tiêu nhiên nhất tháp lương 歲晚山中無曆日 Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật 菊花開處即重陽 Cúc hoa khai xứ tức Trùng Dương 禪師 玄光 Thiền Sư HUYỀN QUANG HOA CÚC Quên thân quên thế đã quên xong Yên lặng ngồi lâu mát lạnh giường Năm hết trong non không có lịch Cúc hoa nở rộ biết Trùng Dương 菊 花 CÚC HOA 春來黄白各芳菲 Xuân lai hoàng bạch các phương phi 愛艷憐香亦似時 Ái diễm liên hương diệc tự thời 遍界繁華全墜地 Biến giới phồn hoa toàn trụy địa 後彫顏色屬東籬 Hậu điêu nhan sắc thuộc đông ly 禪師 玄光 Thiền Sư HUYỀN QUANG HOA CÚC Xuân đến trắng vàng thảy tốt tươi Thương hương yêu mến cũng như thời Khắp cõi muôn hoa rơi rụng hết Rào đông, cúc thắm héo sau thôi 梅花 MAI HOA 欲向蒼蒼問所從 Dục hướng thương thương vấn sở tùng 凜然孤峙雪山中 Lẫm nhiên cô trĩ tuyết sơn trung 折來不為遮青眼 Chiết lai bất vị già thanh nhãn 願借春思慰病翁 Nguyện tá xuân tư ủy bệnh ông 禪師 玄光 Thiền Sư HUYỀN QUANG HOA MAI Muốn hướng cao xanh hỏi tự đâu Riêng mang tuyết lạnh giữa non sâu Bẻ về chẳng phải lừa tri kỷ Nguyện mượn tình xuân giải bệnh sầu 花 HOA 花在中庭人在樓 Hoa tại đình trung nhân tại lâu 焚香獨坐自忘憂 Phần hương độc tọa tự vong ưu 主人與物渾無竸 Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh 花向群芳出一頭 Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu 禪師 玄光 Thiền Sư HUYỀN QUANG HOA Hoa ở trong sân, người ở lầu Đốt hương, ngồi dứt bặt lo âu Chủ nhân với vật không giành giật Hoa hướng muôn phương ló một đầu 過萬劫 QUÁ VẠN KIẾP 諒州人物水流東 Lạng châu nhân vật thủy lưu đông 百歲光陰撚指中 Bch tuế quang m nhiễn chỉ trung 回首故山凝望處 Hồi thủ cố sơn ngưng vọng xứ 數行歸鴈帖晴空 Sổ hàng quy nhạn thiếp tình không 禪師 玄光 Thiền Sư HUYỀN QUANG QUA VẠN KIẾP Lạng Châu người vật nước về đông Bóng ảnh trăm năm thoắt chẳng còn Núi cũ quay đầu chăm chú ngắm Nhạn về lớp lớp thuận tầng không 春日即事 XUÂN NHẬT TỨC SỰ 二八佳人刺綉遲 Nhị bát giai nhân thích tú trì 紫荆花下囀黄鸝 Tử Kinh hoa hạ chuyển Hoàng Ly 可憐無限傷春意 Khả liên vô hạn thương xuân ý 盡在停針不語時 Tận tại đình châm bất ngữ thì 禪師 玄光 Thiền Sư HUYỀN QUANG TỨC CẢNH NGÀY XUÂN Gái xinh mười sáu, chậm tay đan Dưới đóa Tử Kinh, Oanh hót vang Thương thay xuân ý buồn vô hạn Dứt tại dừng kim, chẳng nói năng 早秋 TẢO THU 夜氣分凉入畫屏 Dạ khí phân lương nhập họa bình 蕭蕭庭樹報秋聲 Tiêu tiêu đình thụ báo thu thanh 竹堂忘適香初盡 Trúc đường vong thích hương sơ tận 一一叢枝網月明 Nhất nhất tùng chi võng nguyệt minh 禪師 玄光 Thiền sư HUYỀN QUANG THU SỚM Thơm mát hơi đêm thổi bức màn Cây sân nghe sáo báo thu sang Trong căn nhà trúc quên hương tắt Mỗi mỗi gom cành lưới ánh trăng 地爐即事 ĐỊA LÔ TỨC SỰ 煨餘榾咄獨焚香 Ổi dư cốt đốt độc phần hương 口答山童問短章 Khẩu đáp sơn đồng vấn đoản chương 手把吹商和木鐸 Thủ bả xuy thương hòa mộc đạc 從教人笑老僧茫 Tùng giao nhân tiếu lão tăng mang 禪師 玄光 Thiền Sư HUYỀN QUANG LÒ ĐẤT TỨC CẢNH Dư lửa đốt lò riêng thắp hương Sơn Đồng thưa hỏi, đáp đôi chương Tay nâng sáo thổi hòa mõ gỗ Mặc kệ người chê, lão chẳng vương 晝眠 TRÚ MIÊN 祖父田園任自鋤 Tổ phụ điền viên nhậm tự sừ 千青盤屈繞吾廬 Thiên thanh bàn khuất nhiễu ngô lư 木犀牕外千鳩寂 Mộc Tê song ngoại thiên Cưu tịch 一枕清風晝夢餘 Nhất chẩm thanh phong trú mộng dư 禪師 玄光 Thiền Sư HUYỀN QUANG NGỦ NGÀY Vườn ruộng ông cha tự nhận cày Quanh nhà xanh rợp tỏa ngàn cây Ngoài song cây Quế không Tu Hú Gối gió dịu êm, mộng suốt ngày 午睡 NGỌ THỤY 雨過溪山淨 Vũ quá khê sơn tịnh 楓林一夢凉 Phong lâm nhất mộng lương 反觀塵世界 Phản quan trần thế giới 开眼醉茫茫 Khai nhãn túy mang mang 禪師 玄光 Thiền Sư HUYỀN QUANG NGỦ GIỮA TRƯA Mưa tạnh suối núi sạch Rừng thông đẹp mộng đầy Ngược nhìn thế giới bụi Mở mắt say ngất ngây 山宇 SƠN VŨ 秋風午夜拂簷牙 Thu phong ngọ dạ phất thiềm nha 山宇蕭然枕綠籮 Sơn vũ tiêu nhiên chẩm lục la 已垒成禪心一片 Dĩ lũy thành thiền tâm nhất phiến 蛩聲唧唧為誰多 Cung thanh tức tức vị thùy đa 禪師 玄光 Thiền Sư HUYỀN QUANG NHÀ TRÊN NÚI Gió Thu trưa tối phủi hành lang Nhà núi lặng yên, gối cỏ xanh Một mảnh tâm thiền thành đạt được Vì ai, tiếng dế rộn ràng vang ?…. 石室 THẠCH THẤT 半間石室和雲住 Bán gian thạch thất hòa vân trụ 一領毳衣經歲寒 Nhất lĩnh thuế y kinh tuế hàn 僧在禪床經在案 Tăng tại thiền sàng, kinh tại án 爐殘榾柮日三竿 Lô tàn cốt đốt nhật tam can 禪師 玄 光 Thiền Sư HUYỀN QUANG CĂN NHÀ ĐÁ Nửa gian nhà đá đứng cùng mây Một áo lông che lạnh tháng ngày Tăng ở giường Thiền, Kinh trên án Lò tàn củi đốt, nắng cao thay 次寳慶寺壁間題 THỨ BẢO KHÁNH TỰ BÍCH GIAN ĐỀ 荒草殘煙野思多 Hoang thảo tàn yên dã tứ đa 南樓北舘夕陽斜 Nam lâu bắc quán tịch dương tà 春無主惜詩無料 Xuân vô chủ tích thi vô liệu 愁絕東風幾樹花 Sầu tuyệt đông phong kỷ thụ hoa 禪師 玄光 Thiền Sư HUYỀN QUANG HỌA BÀI THƠ ĐỀ TRÊN VÁCH CỦA CHÙA BẢO KHÁNH Cỏ dại khói tàn, quê lắm vẻ Lầu Nam quán Bắc nắng chiều buông Tiếc thơ không ý, xuân không chủ Bao cội hoa buồn mất gió Đông 延 祐 寺 DIÊN HỰU TỰ 上 方 秋 夜 一 鐘 闌 Thượng phương thu dạ nhất chung lan 月 色 如 波 楓 樹 丹 Nguyệt sắc như ba, phong thụ đan 鴟 吻 倒 眠 方 鏡 冷 Si vẫn đảo miên phương kính lãnh 塔 光 雙 峙 玉 尖 寒 Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn 萬 緣不染城遮俗 Vạn duyên bất nhiễm thành già tục 半 點 無 憂 眼 放 寬 Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan 參 透 是 非 平 等 相 Tham thấu thị phi bình đẳng tướng 魔 宮 佛 國 好 生 觀 Ma cung Phật quốc hảo sinh quan 禪師 玄 光 Thiền Sư HUYỀN QUANG CHÙA DIÊN HỰU Đêm thu cao tít tiếng chuông vang Trăng dợn sóng soi thông úa vàng Cú ngủ ngược đầu, gương chiếu lạnh Tháp soi hai ngọn, ngọc sinh hàn Thành che Thế Tục, không duyên nhiễm Mắt tỏa khoan dung, chẳng tính toan Tham thấu đúng sai, bình đẳng tướng Cung Ma cõi Phật, quán sinh lành 贈仕途子弟 TẶNG SĨ ĐỒ TỬ ĐỆ 富貴浮雲遲未到 Phú quý phù vân trì vị đáo 光陰流水急相催 Quang âm lưu thủy cấp tương thôi 何如小隱林泉下 Hà như tiểu ẩn lâm tuyền hạ 一榻松風茶一杯 Nhất tháp tùng phong trà nhất bôi 禪師 玄光 Thiền Sư HUYỀN QUANG TẶNG CON EM THI LÀM QUAN Phú quý mây trôi chậm chửa thành Nước trôi ngày tháng đẩy đưa nhanh Sao bằng tiểu ẩn nơi rừng suối Thông, gió, trà tươi, một ván sàng 因事題究蘭寺 NHÂN SỰ ĐỀ CỨU LAN TỰ 德薄常慚繼祖燈 Đức bạc thường tàm kế tổ đăng 空教寒拾起冤僧 Không giao Hàn Thập khởi oan tăng 爭如逐伴歸山去 Tranh như trục bạn quy sơn khứ 疊嶂重山萬萬層 Điệp chướng trùng sơn vạn vạn tằng 禪師 玄光 Thiền Sư HUYỀN QUANG NHÂN VIỆC ĐỀ CHÙA CỨU LAN Thẹn đức mỏng nối đèn chư Tổ Không hề xui Hàn Thập oán hờn Tranh nhau theo bạn về non Núi muôn vạn lớp chất chồng ngăn che Khóa Hư - Trần Thái Tông Phiên âm: PHỔ THUYẾT SẮC THÂN Chư nhân đẳng, thân vi khổ bản, chất thị nghiệp nhân. Nhược tự dĩ thử vi chân, dã thị nhận tặc tác tử. Nhĩ khả tử tế khan lai, chỉ giá sắc thân vị nhập bào thai chi nhật, na xứ đắc hữu? Cái do niệm khởi duyên hội, ngũ uẩn hợp thành, thể mạo vọng sanh, hình dung giả xuất, vong chân vong bản, hiện ngụy hiện hư. Hoặc nữ hoặc nam, hoặc nghiên hoặc xú, tận thị túng tâm phóng khứ, đô vô thoái bộ hồi qui, khu trì sanh tử lộ đầu, thất khước Bản lai diện mục. Do thị cung mâu ngoại nhận, thùy tri cố thủ nội khan. Lai thời sanh thị hóa sanh, đáo xứ mộng trung thuyết mộng. Ba ba lục lục, dịch dịch thông thông; dĩ huyễn vi chân, bội không xu sắc, khô lâu thược tháp hoa trâm ngọc; xú bì đại đới xạ huân lan. Tiển la ỷ khỏa nùng huyết nẵng, điều diên hoa ngự thỉ niệu thung. Như tư ngoại sức, chung thị uế căn. Bất năng giá lý tự tàm; phản hướng cá trung trước ái. Chư nhân đẳng! Đại tợ cơ quan khối lỗi, toàn bằng ti tuyến khiên trừu; lộng lai lộng khứ dữ sanh đồng, phóng hậu thu thời chân tử dạng. Tự khởi vạn ban kế hiệu, đô duyên lục tặc giao công; bất ưu lão bệnh tử lai, quản tham tửu sắc tài khứ. Đồ cạnh dăng đầu oa giác, cam vi lợi tỏa danh cương. Nhật gian phí tận hãnh cầu, dạ lý phiên thành mộng tưởng. Tích đắc nghiệp cấu như tỉnh, bất tri mấn phát tợ sương. Nhất triêu hoạn nhiễm trầm kha, bách tuế chung qui đại mộng. Tâm can đổng thống, phản nhược oan thù; cơ thể suy vi chân như ngạ quỉ. Thượng dục kỳ thân đảo mệnh, bất tri sát vật thương sanh. Tương kỳ nhất thế đẳng trường tùng, bất giác tứ chi chân lậu ốc. Hồn phách tuy qui quỉ giới, thi hài do ủy nhân gian. Phát mao trảo xỉ vị cập tiêu, thế thóa tân dịch tiên bính xuất. Hủ lạn tắc lưu nùng lưu huyết; ô uế tắc huân địa huân thiên. Bão hắc bất kham quan, ứ thanh chân khả ố. Bất luận bần phú, đồng nhập tử vong. Hoặc tàng ư thất tắc trùng xuất hủ sanh, hoặc khí ư lộ tắc nha san khuyển thực. Thế nhân giai yểm tị nhi quá, hiếu tử phản lũy ly dĩ tàng; thập cốt thâu hài, yểm cách mai tủy. Quan liệm phó nhất tinh dã hỏa, thổ đôi táng vạn lý hoang sơn. Tích thời lục mấn chu nhan; kim nhật thanh khôi bạch cốt. Lệ vũ sái thời vân thảm thảm, bi phong động xứ nguyệt vi vi. Dạ lan tắc quỉ khốc thần sầu, tuế cửu tắc ngưu tàn mã tiễn. Huỳnh hỏa chiếu khai thanh thảo lý, cung thanh ngâm đoạn bạch dương sao. Bi minh bán một tỏa thanh đài, tiều mục đạp xuyên thành khê kính. Nhậm thị văn chương cái thế, túng nhiêu tài mạo khuynh thành. Đáo đầu khởi hữu dị đồ, triệt để dã đồng nhất trước. Nhãn bị sắc khiên qui kiếm thụ, nhĩ tùy thanh dẫn thượng đao sơn. Tị đầu khứu trước xú yên tinh, thiệt lý khiết lai thiết hoàn nhiệt. Thân khiếp dương đồng câu quán khái; ý toan hỏa hoạch mỗi ngao tiên. Nhân gian lịch tận bách xuân thu, ngục nội phương vi nhất trú dạ. Nhược thị tác gia cụ nhãn, trực tu tảo cấp hồi quang. Phiên thân khiêu xuất tử sanh khòa; đàn chỉ liệt khai ân ái võng. Túng nhĩ nam, túng nhĩ nữ tổng thị kham tu; nhậm cừ trí nhậm cừ ngu tận giai hữu phận. Nhược vị đạt Phật tâm Tổ ý, thả tiên bằng trì giới niệm kinh; cập Phật diệc phi, Tổ diệc phi tắc giới hà trì kinh hà niệm. Cư huyễn sắc diệc danh chân sắc, xử phàm thân dã thị Pháp thân; phá lục tặc vi lục thần thông, du bát khổ tác bát tự tại. Tuy ngôn nhậm ma nhi nhân nhân ký nhập giá sắc thân lý, khứ dã thị nan nan. Chư nhân đẳng! Chỉ giá sắc thân, hựu tác thập ma sanh thoát dã? Nhược vị năng thoát tu lai thính thủ. Kệ viết: Vô vị chân nhân xích nhục đoàn Hồng hồng bạch bạch mạc tương man Thùy tri vân quyện, trường không tịnh Thúy lộ thiên biên, nhất dạng san. Dịch: NÓI RỘNG SẮC THÂN Hết thảy các người! Thân là gốc khổ, thể chất là nhân nơi nghiệp, nếu tự cho nó là thật, cũng là nhận giặc làm con. Các ông nên chín chắn xem, chỉ sắc thân này khi chưa vào bào thai thì nơi nào được có. Bởi do niệm khởi duyên hội, năm uẩn hợp thành, thể mạo vọng sanh, hình dung giả có. Quên thật quên gốc, hiện giả hiện dối, hoặc nữ hoặc nam, hoặc đẹp hoặc xấu. Trọn là buông tâm chạy đi, toàn không một bước trở về, chạy rong trên đường sanh tử, mất tuốt “Bản lai diện mục”. Do đó, giương mắt nhìn bên ngoài, ai biết xoay đầu ngó lại bên trong. Khi lại, sanh là hóa sanh. Nơi đến, trong mộng nói mộng, lăng xăng lộn xộn, vội vội vàng vàng, lấy giả làm chân, trái không đến sắc. Đầu sọ khô cài hoa giắt ngọc, túi da hôi ướp xạ xông hương, cắt lụa là che đãy máu tanh, giồi son phấn át thùng phân thúi. Trang sức như thế trọn là gốc nhớp. Không thể nơi đây tự thẹn, lại hướng trong ấy mến yêu. Hết thảy các người! Giống hệt con rối, đều nhờ sợi tơ kéo rút, đùa đến đùa đi cùng sanh một thứ, sau khi buông đi thật là dáng chết. Tự khởi muôn việc tính toán, đều do lục tặc công phá. Chẳng lo già bệnh chết đến, chỉ thích sắc tài rượu thịt. Luống đua đầu lằng sừng ốc(1) cam chịu lợi ràng danh buộc. Trọn ngày dồn sức mong cầu, tối lại trở thành mộng tưởng. Chất chứa nghiệp dơ như giếng, chẳng biết tóc bạc như sương. Một hôm bệnh nặng trầm kha, trăm năm trọn về mộng lớn. Tim gan đau đớn dường thể oán thù, thân thể ốm gầy giống như quỉ đói. Còn muốn cầu đảo sống dai, nào biết sát sanh hại mạng. Chỉ mong biết đời sống như tùng bá, đâu ngờ thân thể ví tựa nhà xiêu. Hồn phách tuy về cõi quỉ, thi hài vẫn còn ở nhân gian, tóc lông răng móng chưa kịp tiêu, đàm dãi máu me đều chảy trước. Rữa nát thì máu mủ chảy trào, hôi hám ắt xông trời xông đất, đen nám chẳng dám nhìn, xanh bầm thật đáng tởm. Chẳng luận giàu nghèo đồng vào cõi chết, hoặc để trong nhà thì dòi đục tửa sanh, hoặc ném ra đường quạ ăn chó xé. Người đời đều bịt mũi đi qua, con hiếu thì lấy chiếu mền quấn giấu. Nhặt thu hài cốt, chôn cất thịt xương. Quan quách phó cho đóm lửa ma trơi nơi hoang dã, mả mồ giao cho muôn dặm núi sông. Khi xưa tóc đen má ửng, ngày nay xương trắng tro đen. Khi mưa lệ rơi thì mây sầu thê thảm, lúc gió buồn thổi thì trăng sáng hắt hiu. Đêm vắng thì quỉ khóc thần sầu, năm dài thì ngựa giày trâu đạp. Lửa đom đóm lập lòe trong đám cỏ xanh, tiếng dế ngâm nỉ non cạnh hàng dương liễu. Bia ghi nửa chìm, rêu xanh phủ, tiều phu giậm mãi thành lối mòn. Dầu cho văn chương cái thế, giả sử tài sắc nghiêng thành, chung cuộc đâu có đường khác, cuối cùng cũng chỉ một lối đi. Mắt bị sắc dẫn trèo lên cây kiếm; tai theo tiếng lôi tiến lên núi đao; lỗ mũi ngửi toàn mùi hôi hám; trong lưỡi ăn sắt nóng nuốt hoài; thân khiếp sợ nước đồng sôi nóng dội; ý chua cay vạc dầu sôi nung nấu. Nhân gian trọn một trăm năm, trong địa ngục mới là sáng tối. Nếu người tác gia đủ mắt, cần phải sớm gấp hồi quang, chuyển thân nhảy khỏi vòng sanh tử, khoảng khảy tay cắt đứt lưới ái ân. Dù là nam hay nữ thảy đều tu được; dẫu rằng trí hay ngu trọn đều có phần. Nếu chưa đạt được Phật tâm, Tổ ý, hãy trước nương trì giới tụng kinh. Đến lúc Phật cũng chẳng phải, Tổ cũng chẳng phải, thì giới gì trì, kinh nào tụng. Nơi sắc huyễn cũng là chân sắc, ở thân phàm cũng là thân Phật. Phá sáu thức làm sáu thần thông, dạo tám khổ(2) thành tám tự tại(3). Tuy nói thế ấy, mà mỗi người vào trong sắc thân rồi, bỏ đó thật khó thay! Hết thảy các người! Chỉ sắc thân này lại làm sao giải thoát? Nếu chưa giải thoát, cần phải nghe đây: Vô vị chân nhân thịt đỏ au, Hồng hồng bạch bạch chớ lầm nhau. Ai hay mây cuộn, không toàn tịnh, Sương biếc bên trời, một núi xanh. Phiên âm: PHỔ KHUYẾN PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM Phù thế chi chí quí giả, duy kim ngọc nhĩ. Nhiên sát kỳ sở trọng, thẩm kỳ sở tích phản bất cập ư thân mệnh giả dã. Giả như hữu phú quí gia nhân bái vi đại tướng, dụng hoàng kim vi giáp dĩ bị kỳ thân. Chí lâm chiến chi nhật, binh nhận ký nhiếp chi thời, hoặc khí giáp duệ binh nhi tẩu, ký đắc toàn ư nhất thân nhi dĩ, nhi hoàng kim chi giáp khởi hạ cố tai! Nãi tri hoàng kim chi trọng bất túc dĩ tỷ thân mệnh giả, thử chi vị dã. Kim giả bất nhiên phản quí kỳ vật nhi tiện kỳ thân, bất tri kỳ thân, hữu nan phùng giả tam. Hà giả vi tam? Nhất giả, lục đạo chi trung duy nhân vi quí. Chí nhãn quang lạc địa chi thời, hôn hôn mộng mộng, bất tri sở xu. Hoặc nhập địa ngục, a-tu-la, ngạ quỉ, súc sanh chi đạo, bất đắc vi nhân, thị nhất nan phùng dã. Nhị giả, ký đắc vi nhân, hoặc sanh man di chi xứ, dục tắc đồng xuyên, ngọa tắc đồng sàng, tôn ti hỗn xử, nam nữ tạp cư; bất bị nhân phong, bất điều thánh hóa. Thử nhị nan phùng dã. Tam giả, ký đắc sanh ư trung quốc, lục căn bất cụ, tứ thể bất toàn, manh lung ám á, sậm sước luy loan, khẩu tị tinh chiên, thân hình xú lạn; sư bất dữ cận, chúng mạc nan thân. Tuy cư hoa hạ chi trung, nhược xử cùng hoang chi ngoại. Thử tam nan phùng dã. Kim ký vi nhân đắc sanh ư trung quốc, hựu lục căn toàn cụ, khởi bất vi quí hồ? Phàm thế chi nhân, mỗi khu khu ư danh lợi chi đồ, thương kỳ thần lao kỳ hình; khí kỳ thân mệnh chi chí trọng, dịch ư tài hóa chi chí khinh; dữ thực bỉnh vong thê, hàm phạn vong giáp, hữu hà dị tai! Tuy ngôn thân mệnh chi chí trọng, do vị túc trọng ư chí đạo giả dã. Cố Khổng Tử viết: Triêu văn đạo, tịch tử khả hỉ. Lão Tử viết: Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vị ngô hữu thân. Thế Tôn cầu đạo xả thân cứu hổ, khởi phi tam thánh nhân khinh thân nhi trọng đạo giả tai! Ô hô! Thân mệnh chi chí trọng nhi thượng ưng xả cầu Vô thượng Bồ-đề, huống kim ngọc tài bảo chi chí khinh hựu hà tích tai! Hu, thập thất chi ấp thượng hữu trung tín, cử thế chi nhân khởi vô thông minh kiệt tuệ giả hồ? Thảng văn tư ngôn, cố đương mẫn học, vật tự trì nghi. Kinh vân: nhất thất nhân thân, vạn kiếp bất phục, thâm khả thống tai! Cố Khổng Tử hữu ngôn: Nhân nhi vô vi, ngô mạt như chi, hà dã dĩ hĩ! Tường phù bách niên quang ảnh toàn tại sát-na; tứ đại huyễn thân, khởi năng trường cửu. Mỗi nhật trần lao mịch mịch, chung triêu nghiệp thức mang mang. Bất tri nhất tánh chi viên minh; đồ sính lục căn chi tham dục. Công danh cái thế, vô phi đại mộng nhất trường, phú quí kinh nhân, nan miễn vô thường nhị tự. Tranh nhân tranh ngã, đáo để thành không; khoa hội khoa năng, tất cánh phi thật. Phong hỏa tán thời vô lão thiếu, Khê sơn ma tận kỷ anh hùng. Lục mấn vị kỷ nhi bạch phát tảo xâm; hạ giả tài lâm nhi điếu giả tùy chí. Nhất bao nùng huyết trường niên khổ luyến ân tình; thất xích độc lâu tứ ý san tham tài bảo. Xuất tức nan kỳ nhập tức, kim triêu bất bảo lai triêu. Ái hà xuất một kỷ thời hưu Hỏa trạch ưu tiên hà nhật liễu. Bất nguyện xuất ly nghiệp võng, chỉ nhân vị hữu công phu. Diêm-la vương hốt địa lai truy, Thôi tướng công khởi dung triển hạn. Hồi thủ gia thân đô bất kiến, đáo đầu nghiệp báo tự thừa đương. Quỉ vương ngục tốt nhất nhậm khi lăng; kiếm thụ đao sơn cánh vô thôi để. Hoặc nhiếp Ốc tiêu sơn hạ, hoặc tại Thiết Vi sơn gian. Thụ hoạch thang tắc vạn tử thiên sanh; tao thóa hạp tắc nhất đao lưỡng đoạn. Cơ thôn nhiệt thiết, khát ẩm dung đồng. Thập nhị thời cam thụ khổ tân; ngũ bách kiếp bất kiến đầu ảnh. Thụ túc tội nghiệp, phục nhập luân hồi. Đốn thất cựu thời nhân thân, hoán khước giá hồi bì đại. Phi mao đới giác, hàm thiết phụ yên; dĩ nhục cung nhân, dụng mệnh hoàn trái. Sanh bị đao châm chi khổ, hoạt tao thang hỏa chi tai; hỗ tích oan khiên, đệ tương thực hám. Na thời truy hối, học đạo vô nhân. Hà như trực hạ thừa đương, mạc đãi kim sanh sa quá. Thích-ca Văn Phật, xả hoàng cung nhi trực vãng Tuyết Sơn, cư sĩ Bàng Công, tương gia tài nhi tất trầm thương hải. Chân Vũ bất thống vương vị duy vụ tu hành; Lã Công ký tác thần tiên thượng cần tham vấn. Tô học sĩ thường thân Phật Ấn, Hàn Văn Công chung lễ Đại Điên. Bùi công đoạt hốt ư Thạch Sương, Phòng Tướng vấn pháp ư Quốc Nhất. Diệu Thiện bất chiêu phò mã, thành Phật vô nghi; Lục Tổ tương ngộ khách nhân, thính kinh đốn ngộ. Thiền đạo nhược vô huống vị, Thánh Hiền hà khẳng qui y? Hoa Lâm cảm nhị hổ tùy thân, Đầu Tử hữu tam nha báo hiểu. Lý trưởng giả giải kinh nhi thiên trù tống thực, Tu-bồ-đề đả tọa nhi Đế Thích tán hoa. Đạt-ma chích lý tây qui, Phổ Hóa giao linh đằng khứ. La-hán lai tham ư Ngưỡng Sơn hòa thượng. Nhạc đế thụ giới ư Tư Đại thiền sư. Kính Sơn chí kim do thị Long vương đả cúng, Tuyết Phong vãng tích năng sử mộc nhân khai sơn. Thử giai dĩ nghiệm chi nhân do, thiết mạc tự khinh nhi thoái khuất. Dã hồ thượng thính Bách Trượng pháp, loa sư do hộ Kim Cang kinh. Thập thiên du ngư văn Phật hiệu nhi hóa vi thiên tử, ngũ bách biển bức thính pháp âm nhi tổng tác Thánh Hiền. Mãng văn sám dĩ sanh thiên, long thính kinh nhi ngộ đạo. Bỉ vật thượng năng lĩnh ngộ, huống nhân hà bất hồi tâm. Hoặc hữu mai đầu khiết phạn nhi không quá nhất sanh; hoặc hữu thác lộ tu hành nhi bất tỉnh giá ý. Khởi thức Bồ-đề giác tánh cá cá viên thành; tranh tri Bát-nhã thiện căn nhân nhân cụ túc. Mạc vấn đại ẩn tiểu ẩn, hưu biệt tại gia xuất gia. Bất câu tăng tục nhi chỉ yếu biện tâm, bản vô nam nữ hà tu trước tướng. Vị minh nhân vọng phân tam giáo, liễu đắc để đồng ngộ nhất tâm: Nhược năng phản chiếu hồi quang, giai đắc kiến tánh thành Phật. Hựu huống nhân thân dị thất, Phật pháp nan phùng. Dục siêu lục đạo chi chu lưu, duy hữu Nhất thừa chi tiệp kính. Tu cầu chánh kiến, mạc tín tà sư. Ngộ liễu phương thị nhập đầu, hành đắc thủy năng thoát tục. Bộ bộ đạp trước thực địa, đầu đầu đỉnh đới hư không. Dụng thời tắc vạn cảnh toàn chương, phóng hạ tắc nhất trần bất lập. Siêu sanh tử bất tương quan chi địa, liễu quỉ thần thư bất phá chi cơ. Thị phàm thị thánh nhi đồng nhập lộ đầu, hoặc oán hoặc thân nhi cộng nhất tị khổng. Như tư thực ngộ, thượng trệ bán đồ, hưu thuyết hướng thượng tam huyền, yếu liễu mạt hậu nhất trước. Thả đạo tức kim hoán nả cá tố mạt hậu nhất trước? Thanh sơn đê xứ kiến thiên khoát Hồng ngẫu khai thời văn thủy hương. Dịch: RỘNG KHUYẾN PHÁT TÂM BỒ-ĐỀ Ở đời cái quí tột chỉ là vàng ngọc mà thôi. Nhưng xét kỹ chỗ quí tiếc ấy, chẳng bằng thân mạng. Ví như có người giàu sang được phong làm đại tướng, dùng vàng ròng làm giáp để che đỡ cho thân. Đến khi lâm chiến binh đao bị thua, hoặc cởi giáp ném gươm mà chạy, mong được thân mạng an toàn mà thôi, giáp vàng ròng đâu rảnh nghĩ tiếc. Mới biết, cái quí vàng ròng chẳng bằng cái quí thân mạng, đây là thật vậy. Ngày nay thì không thế, trái lại quí vật kia mà khinh thân này. Chẳng biết thân này khó được có ba. Thế nào là ba? 1- Trong lục đạo chỉ người là quí, đến khi nhắm mắt đi rồi, mờ mờ mịt mịt chẳng biết chỗ đến. Hoặc vào đường địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, a-tu-la chẳng được làm người. Đây là cái khó được thứ nhất. 2- Đã được làm người, lại sanh nơi mọi rợ, tắm thì đồng sông, ngủ thì chung giường, trật tự tôn ty không có, nam nữ lẫn lộn, chẳng được phong tục nhân thuần, chẳng nghe chư thánh giáo hóa. Đây là cái khó được thứ hai. 3- Đã được sanh nơi phồn thịnh mà sáu căn không đủ, thân thể tật nguyền, mù, điếc, câm, ngọng, què, thọt, còng, gù; miệng mũi hôi tanh, thân hình nhơ nhớp. Thầy chẳng được gần, chúng chẳng được thân. Tuy ở nơi phồn thịnh dường thể ở ngoài quê vắng. Đây là cái khó được thứ ba. Nay đã làm người, được sanh nơi phồn thịnh lại đầy đủ sáu căn, đâu chẳng là quí sao? Người đời luôn luôn đuổi theo con đường danh lợi, luống nhọc xác tổn thần, đem thân mạng rất quí báu này làm tôi tớ cho tiền của đáng khinh. Sánh với người ăn bánh quên vợ, ngậm cơm quên môi nào có khác gì. Tuy thân mạng thật là quí trọng, vẫn chưa quí trọng bằng đạo tối cao. Cho nên Khổng Tử nói: “Sớm nghe đạo chiều chết cũng vui.” Lão Tử nói: “Tôi sở dĩ có hoạn lớn, vì tôi có thân.” Thế Tôn thuở xưa cầu đạo xả thân cứu cọp đói. Đâu chẳng phải ba bậc Thánh nhân đều khinh thân mà trọng Đạo đó sao? Than ôi! Thân mạng thật là quí trọng còn phải xả để cầu Vô thượng Bồ-đề, huống là vàng ngọc, tiền của đáng khinh mà lại tiếc sao? Ôi trong ấp mười nhà vẫn có người trung tín, huống là cả thế gian há không có người thông minh sáng suốt hay sao? Đã nghe lời này, cần phải gắng học, chớ nên nghi ngờ chậm trễ. Kinh nói: “Một phen mất thân người, muôn kiếp chẳng được lại”, thật là thống thiết. Cho nên Khổng Tử nói: “Người không chịu làm, tôi chẳng làm gì, cam đành thôi vậy.” Rõ ràng thời gian trăm năm, toàn ở trong sát-na, thân huyễn tứ đại đâu thể lâu dài. Mỗi ngày chìm đắm trong trần lao, mỗi lúc nghiệp thức càng mênh mông vô tận. Chẳng biết một tánh viên minh, luống theo sáu căn tham dục. Công danh cái thế cũng chỉ là một trường đại mộng, phú quí kinh nhân khó khỏi vô thường hai chữ. Tranh nhân tranh ngã rốt cuộc thành không, khoe giỏi khoe hay cứu kính chẳng thật. Gió lửa khi tan không già trẻ Núi sông bại hoại mấy anh hùng. Đầu xanh chưa mấy lúc tóc bạc đã sớm điểm sương; ngày vui vừa đến thì ngày điếu cũng đi theo. Một bao máu mủ nhiều năm khổ luyến ân tình, bảy thước hình hài buông lòng tham mê tài bảo. Thở ra khó mong được hít vào, ngày nay không bảo đảm ngày mai. Sông yêu chìm nổi lúc nào thôi, Nhà lửa đốt thiêu bao giờ tắt? Chẳng nguyện vượt ra lưới nghiệp, chỉ vì chưa có công phu. Vua Diêm-la chợt truy tìm, Thôi tướng công há cho triển hạn. Ngoái đầu nhìn người thân chẳng thấy, đến đây rồi nghiệp báo tự mang. Quỉ vương ngục tốt mặc sức khảo tra, cây kiếm núi đao khôn chống đỡ. Hoặc nhốt dưới ngọn núi lửa, hoặc giam trong núi Thiết Vi. Vào vạc dầu sôi muôn kiếp ngàn đời, bị chặt chém một đao thành hai khúc. Đói nuốt hoàn sắt nóng, khát uống nước đồng sôi. Suốt ngày luôn chịu khổ đau, năm trăm kiếp chẳng thấy hình bóng. Trả xong tội nghiệp, trở vào luân hồi. Bỗng mất thân người khi trước, trở lại mang lấy đãy da. Đội lông mang sừng, hàm sắt dây yên, lấy thịt nuôi người, dùng mạng trả nợ. Sanh bị khổ dao bầm chày nện, sống bị nạn nước sôi lửa bỏng. Hằng chứa oán thù, thay nhau ăn nuốt. Khi đó mới hối hận học đạo không nhân. Chi bằng ngay đây tu tập, chớ để đời này trôi qua. Đức Phật Thích-ca trước bỏ hoàng cung đi thẳng vào núi Tuyết. Cư sĩ Bàng Long Uẩn đem gia tài đổ xuống biển sâu. Chân Vũ chẳng thiết ngôi vua chỉ cầu tu hành. Lữ Công đã làm thần tiên vẫn còn tham vấn. Tô Đông Pha thường gần Phật Ấn, Hàn Văn Công lại lễ Đại Điên, Bùi Công bị đoạt hốt nơi Thạch Sương, Phòng Tướng hỏi pháp ở Quốc Nhất. Diệu Thiện không nhận phò mã, thành Phật chẳng ngờ. Lục Tổ mới gặp khách nghe kinh liền tỉnh ngộ. Đạo Thiền nếu không thú vị, Hiền Thánh sao chịu qui y. Hoa Lâm cảm hóa hai cọp theo luôn. Đầu Tử có ba con chim báo sáng. Lý trưởng giả giải kinh mà Thiên trù dâng cơm. Tu-bồ-đề ngồi yên mà Đế Thích tán hoa. Đạt-ma một chiếc dép về Tây. Phổ Hóa rung chuông bay đi. La-hán đến tham vấn với Hòa thượng Ngưỡng Sơn. Nhạc Đế qui y với Thiền sư Tư Đại. Cảnh Sơn đến nay vẫn được Long vương thỉnh cúng. Tuyết Phong ngày xưa hay sai người gỗ phá non. Đây là những nguyên do để nghiệm biết, chớ tự khinh mà lui sụt. Chồn hoang còn nghe Bá Trượng nói pháp. Loài ốc sò vẫn biết hộ kinh Kim Cang. Mười ngàn con cá nghe danh hiệu Phật được hóa làm con trời. Năm trăm chim quạ nghe tiếng pháp thảy được làm Hiền Thánh. Mãng xà nghe sám hối được sanh thiên. Rồng nghe kinh mà ngộ đạo. Chúng là loài vật còn hay lãnh ngộ, huống là người sao chẳng hồi tâm. Hoặc có người vùi đầu trong ăn uống, qua mất một đời. Hoặc có người trên đường tu hành lầm lẫn, mà không thức tỉnh. Đâu biết, Tánh giác Bồ-đề mỗi mỗi viên thành, nào hay căn lành Bát-nhã người người đầy đủ. Chớ luận đại ẩn tiểu ẩn, thôi phân tại gia xuất gia. Chẳng cuộc người Tăng kẻ tục, chỉ cốt nhận được Bản tâm. Vốn không có nam nữ, đâu cần chấp tướng. Người chưa rõ dối chia tam giáo, liễu được rồi đồng ngộ nhất tâm. Nếu hay phản chiếu hồi quang, đều được kiến tánh thành Phật. Huống là thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Nếu muốn vượt khỏi dòng quanh lục đạo, chỉ có con đường tắt Nhất thừa. Cần tìm chánh kiến, chớ tin tà sư. Ngộ rồi mới là vào cửa, hành được mới hay thoát tục. Bước bước đạp đến đất thật, đầu đầu đều đội hư không. Khi dùng thì muôn cảnh toàn bày, buông đi thì mảy bụi chẳng lập. Vượt đến chỗ không còn tương quan sanh tử, cơ liễu ngộ quỉ thần nhìn chẳng ra. Là phàm là Thánh đồng vào đường này, hoặc oán hoặc thân cùng chung một lỗ mũi. Thật ngộ như thế, còn kẹt giữa đường. Thôi nói tam huyền hướng thượng, cốt rõ một câu rốt sau. Hãy nói hiện nay cái gì là “một câu rốt sau”? Non xanh chốn ấy thấy trời rộng, Sen đỏ nở rồi nghe mùi thơm. (1) Đầu lằng sừng ốc: cái lợi nhỏ nhoi. (2) Tám khổ là: sanh, lão, bệnh, tử, cầu chẳng được, thương yêu chia lìa, oán thù chung hội, thân năm ấm hưng thạnh. (3) Tám tự tại: Một thân hiện nhiều thân như số vi trần. - Thân nhiều như vi trần ở khắp các cõi Phật. - Thân lớn của Phật đến các thế giới. - Phật hiện vô số thân. - Sáu căn hỗ dụng. - Phật đạt tất cả pháp vẫn như không được. - Phật thuyết pháp tự tại. - Thân trùm khắp các nơi giống như hư không. 色身偈 無位真人色肉團 紅紅白白莫相瞞 誰知雲卷長空凈 翠露天邉一樣山 Sắc thân kệ Vô vị chân nhân sắc nhục đoàn Hồng hồng bạch bạch mạc tương man Thùy tri vân quyển trường không tịnh Thúy lộ thiên biên nhất dạng san Dịch nghĩa: Bài kệ về sắc thân Các bậc chân nhân chưa thành Phật cũng chỉ là một khối thịt đỏ hỏn, Đỏ đỏ trắng trắng chớ lừa dối nhau; Ai hay mây cuốn đi thì tầng không quang tạnh, Hiện rõ nơi chân trời một rặng núi biếc xanh. Dịch thơ: I Vô vị chân nhân thịt đỏ au, Hồng hồng, trắng trắng dối chi nhau; Ai hay mây cuốn trời quang tạnh, Núi hiện chân trời biếc một màu. Huệ Chi II Chưa thành Phật – khối thịt hồng, Đỏ đỏ trắng trắng chẳng hòng dối nhau; Cuốn mây tầng biếc sạch làu, Chân trời, dãy núi một màu tươi xanh. Đỗ Quang Liên Giới tửu kệ Tác giả Trần Cảnh 陳煚 戒酒偈 一甕糟糠麴釀成 幾多智者没聰明 非惟獨破緇流界 敗國亡家自此生 Nhất úng tao khang khúc nhưỡng thành Ký đa trí giả một thông minh Phi duy độc phá tri lưu giới Bại quốc vong gia tự thử sinh Dịch nghĩa: Bài kệ răn uống rượu Một vò cám, bã từ men rượu gây nên, Khiến bao người tài trí mất hết sáng suốt; Chẳng riêng phá vỡ sự trì giới của lưu phái áo đen, Mà mất nước, tan nhà cũng từ đấy. Dịch thơ: I Một vò cám bã ủ lên men, Tài trí, thông minh cũng hóa hèn; Giới hạnh sư mô tan nát cả, Bao người nước mất với nhà tan. Băng Thanh II Một vò cám bã lên men, Thông minh, tài trí hóa hèn vì mi; Phá tan giới hạnh sư ni, Nhà tan, nước mất cũng vì say sưa. Đỗ Quang Liên Giới vọng ngữ kệ Tác giả Trần Cảnh 陳煚 戒妄語偈 脇肩諂笑舌揺唇 永作塵寰妄語人 伺意求歡趨世利 到頭爭免業纒身 Hiếp kiên siểm tiếu thiệt dao thần Vĩnh tác trần hoàn vọng ngữ nhân Tứ ý cầu hoan xu thế lợi Đáo đầu tranh miễn nghiệp triền thân Dịch nghĩa: Bài kệ răn nói càn So vai cười nịnh khua lưỡi múa mép, Mãi mãi là kẻ nói càn trên cõi đời; Lựa ý, cầu vui chạy theo mối lợi trong cuộc thế, Cuối cùng không tránh được nghiệp chướng buộc vào thân. Dịch thơ: I So vai cười nịnh khua môi lưỡi, Mang tiếng điêu toa khắp cõi trần; Lựa ý cầu vui mong được lợi, Tránh sao nghiệp chướng buộc vào thân. Đỗ Văn Hỷ - Băng Thanh II So vai, cười nịnh, khua môi, Mãi là kẻ sống trên đời điêu toa; Cầu vui, mong lợi về ta, Tránh sao nghiệp chướng sa đà triền miên. Đỗ Quang Liên Giới sắc kệ Tác giả Trần Cảnh 陳煚 戒色偈 腮惹梅香臉膩桃 見之目送意忉忉 都盧一袋肌皮臭 暗断人腸不用刀 Tai nhạ mai hương kiểm nhị đào Kiến chi mục tống ý đao đao Đô lư nhất đại cơ bì xú Ám đoạn nhân trường bất dụng đao Dịch nghĩa: Bài kệ răn ham sắc Mang tai thoảng hương mai, má đào mơn mởn, Thấy nhan sắc ấy thì mắt liếc mà ý xiêu xiêu; Chẳng qua chỉ là một túi thịt, da hôi thối, Ngầm cắt lòng người mà chẳng cần dao. Dịch thơ: I Tóc thoảng hương mai, mi nhụy đào, Liếc nhìn mà dạ đã nao nao; Thịt da một bọc tanh nồng đó, Ngầm cắt lòng người chẳng mượn dao. Đỗ Văn Hỷ - Băng Thanh II Tóc hương mai, má nhụy đào, Liếc nhìn mà đã nao nao cả lòng; Thịt da một bọc tanh nồng, Cắt ruột người, chẳng cần dùng đến dao. Đỗ Quang Liên Giới thâu đạo kệ Tác giả: Trần Cảnh -Trần Thái Tông (1218-1277) 陳煚陳太宗 Là Hoàng đế khai sáng triều nhà Trần, vị vua anh hùng chiến thắng quân Mông Cổ lần thứ nhất (1258) 戒偷盗偈 鑿壁穿墻意不休 千般百計苦營求 今生苟得他人物 不覺終天受馬牛 Tạc bích xuyên tường ý bất hưu Thiên ban bách kế khổ doanh cầu Kim sinh cẩu đắc than nhân vật Bất giác chung thiên thiên thụ mã ngưu Dịch nghĩa: Bài kệ răn trộm cắp Ý định đào tường, khoét vách không bao giờ thôi, Trăm phương nghìn kế, cố mưu tính làm cho được; Lúc sống dù lấy được của người khác, Đâu biết rằng khi chết phải làm kiếp ngựa trâu. Dịch thơ: I Khoét vách, đào tường trăm kế sâu, Lăm lăm toan tính những mưu cầu; Kiếp này ví được của người khác, Đâu biết muôn đời kiếp ngựa trâu. Băng Thanh II Mưu sâu khoét vách, đào tường, Trăm phương nghìn kế chỉ toan của người; Kiếp này dù được mấy mươi, Biết đâu kiếp khác mấy đời ngựa trâu. Đỗ Quang Liên Giới sát sinh kệ Tác giả: Trần Cảnh - Trần Thái Tông (1218-1277) 陳煚陳太宗 Là Hoàng đế khai sáng triều nhà Trần, vị vua anh hùng chiến thắng quân Mông Cổ lần thứ nhất (1258) 戒殺生偈 羽毛鱗甲盡含靈 畏死貪生豈異情 自古聖賢懷不忍 焉能見死與貪生 Vũ mao lân giáp tận hàm linh Úy tử tham sinh khởi dị tình Tự cổ thánh hiền hoài bất nhẫn Yên năng kiến tử dữ tham sinh Dịch nghĩa: Bài kệ răn sát sinh Các loài có cánh, có lông, mang mai, mang vẩy đều chứa đựng tinh linh, Cái tình tham sống sợ chết nào có khác gì nhau; Từ xưa, lòng các bậc Thánh, bậc Hiền đều không nỡ, Sao có thể nhìn cái chết mà vẫn tham sống. Dịch thơ: I Cánh, lông, mai, vẩy ấy sinh linh, Chết: sợ, Sống: tham – há khác tình. Từ cổ Thánh, Hiền lòng bất nhẫn, Sao đành thấy “Tử” lại tham “Sinh”. Băng Thanh II Cánh, lông, mai, vẩy: sinh linh, Sống tham, chết sợ, thường tình như nhau; Thánh Hiền có bất nhẫn đâu, Sao đành thấy “Tử” mà hầu tham “Sinh”. Đỗ Quang Liên Tứ sơn kệ Tác giả: Trần Cảnh -Trần Thái Tông (1218-1277) 陳耿陳太宗 Là Hoàng đế khai sáng triều nhà Trần, vị vua anh hùng chiến thắng quân Mông Cổ lần thứ nhất (1258) 四山偈 四山峭壁萬青叢 悟了都無萬物空 喜得鱸兒三脚在 驀騎打趂上高峰 Tứ sơn tiễu bích vạn thanh tùng Ngộ liễu đô vô vạn vật không Hỷ đắc lư nhi tam cước tại Mịch ki đả sấn thướng cao phong Dịch nghĩa: Bài kệ về bốn núi Bốn núi chót vót muôn khóm xanh, Hiểu rõ tất cả là hư vô, vạn vật là không; Mừng được con lừa ba chân còn đó, Cưỡi mà lên thẳng ngọn núi cao. Dịch thơ: I Bốn núi cheo leo vạn khóm xanh, Muôn loài không cả, hiểu cho rành; Lừa ba chân đó, may tìm được, Lên thẳng non cao sấn bước nhanh. Đỗ Văn Hỷ - Đào Phương Bình – Băng Thanh II Cheo leo bốn núi, cây trùm, Hư vô tất cả là Không muôn loài; Lừa ba chân hãy còn đây, Cưỡi xông thẳng ngọn núi này chon von. Đỗ Quang Liên Chú thích: Bốn núi là: Sinh, Già, Ốm, Chết. Theo hòa thượng Phúc Điền thì ba chân lừa còn lại là Già, Ốm, Chết; Sinh đã là Không, thì già, ốm, chết cũng chẳng có. Hiểu điều đó là đạt tới chỗ giác ngộ, như lên núi cao bằng con ngựa ba chân. Chí tâm hồi hướng Tác giả Trần Cảnh 陳煚 志心迴向 我等回心歸聖眾 慇懃頭地禮慈尊 願將功德及群生 憑此勝因成正覺 Ngã đẳng hồi tâm quy thánh chúng Ân cần đầu địa lễ từ tôn Nguyện tương công đức cập quần sinh Bằng thử thắng nhân thành chính giác Dịch nghĩa: Dốc lòng hồi hướng Chúng tôi hồi tâm quay về với các thánh, Rập đầu khẩn khoản kính lễ đức Từ Tôn; Mong đem công đức đến với chúng sinh, Nhờ nhân tốt này mà trở thánh Chính giác. Dịch thơ: I Chúng tôi dốc chí theo chư Phật, Kính lễ Từ Tôn hết tấc thành; Công đức muôn loài nguyền tưới khắp, Tu nên Chính Giác dựa nhân lành. Đỗ Văn Hỷ - Băng Thanh II Quay về chư Phật – dốc lòng, Rập đầu cầu khấn Từ Tôn độ trì; Đem công đức đến muôn loài, Tu nên chính giác, dựa nay nhân lành. Đỗ Quang Liên Chú thích: Từ Tôn: Từ bi, cao cả, tức là Phật. Chính giác: sự giác ngộ hoàn toàn, hiểu hết được tất cả, do vậy, Chính Giác cũng là một hiệu của Phật Thích Ca, cũng gọi là Chính Biến Giác, nguyên tiếng Phạn. Chí tâm tùy hỷ Tác giả Trần Cảnh 陳煚 志心隨喜 我今隨佛生歡喜 昏曉虔誠禮懴因 十地階棲願早登 菩提眞心無退轉 Ngã kim tùy Phật sinh hoan hỉ Hôn hiểu kiền thành lễ sám nhân Thập địa giai thê nguyện tảo đăng Bồ đề chân tâm vô thoái chuyển Dịch nghĩa: Dốc lòng tùy hỷ Ta nay theo Phật sinh lòng vui mừng, Sớm hôm thành kính sám hối nguyên nhân của lỗi lầm; Mong sớm được lên thang Thập địa, Không xa rời chân tâm Bồ đề. Dịch thơ: I Ta nay theo Phật lòng hoan hỷ, Thành kính hôm mai sửa lỗi lầm; Mong sớm được lên thang Thập địa, Dốc lòng gìn giữ lấy chân tâm. Băng Thanh II Từ nay theo Phật, lòng mừng, Sớm hôm sám hối lỗi lầm căn nguyên; Thang Thập địa sớm được lên, Dốc lòng gìn giữ chân tâm Bồ đề. Đỗ Quang Liên Chú thích: Thập địa có hai cách định nghĩa: Theo Trí độ luận là: căn tuệ, tịnh địa, bất nhẫn, kiến địa, bạc địa, ly dục, dĩ biện, chi Phật, Bồ tát, Phật địa. Theo Kinh hoa nghiêm là: hoan hỷ, ly cấu, phát quang, diệm tuệ, cực nan thắng, hiện tiền, viễn hành, bất động, phổ tuệ, pháp vân. Tượng trưng cho những nơi tốt đẹp của đất Phật. Hướng thượng nhất lộ kệ Tác giả: Trần Cảnh -Trần Thái Tông (1218-1277) 陳煚陳太宗 Là Hoàng đế khai sáng triều nhà Trần, vị vua anh hùng chiến thắng quân Mông Cổ lần thứ nhất (1258) 向上一路偈 處處綠楊堪繫馬 家家有路到長安 囬程月下人稀到 一道蟾光大地寒 Xứ xứ lục dương kham hệ mã Gia gia hữu lộ đáo Tràng An Hồi trình nguyệt hạ nhân hi đáo Nhất đạo thiềm quang đại địa hàn Dịch nghĩa: Bài kệ về một con đường tiến lên Nơi nơi, dương liễu xanh có thể buộc ngựa, Người người đều có con đường đi tới Tràng An; Đường về, dưới bóng trăng ít người đến, Một vệt ánh sáng trăng, cả mặt đất lạnh lẽo. Dịch thơ: I Chốn chốn dương xanh nên buộc ngựa, Người người có lối đến Trường Yên; Đường về trăng sáng người thưa vắng, Một ánh trăng đêm lạnh khắp miền. Đỗ Văn Hỷ II Liễu xanh buộc ngựa thỏa thuê, Người người đều sẵn lối về Tràng An; Ít ai đến, dưới trăng vàng, Ánh ngân lạnh lẽo tỏa lan khắp miền. Đỗ Quang Liên Chú thích: Tràng An: nguyên là kinh đô nhà Hán, sau thành tên chung chỉ các kinh đô và những nơi đô hội. Cư Trần Lạc Đạo phú HỘI THỨ NHẤT Mình ngồi thành thị; nết dùng sơn lâm. Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính; nửa ngày rồi tự tại thân tâm. Tham ái nguồn dừng, chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quý; thị phi tiếng lặng, được dầu nghe yến thốt oanh ngâm. Chơi nước biếc, ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ý; biết đào hồng, hay liễu lục, thiên hạ năng mấy chủ tri âm! Nguyệt bạc vừng xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng; liễu mềm hoa tốt, ngất quần sinh tuệ nhật sâm lâm. Lo hoán cốt, ước phi thăng, đan thần mới phục; nhắm trường sinh, về thượng giới, thuốc thỏ còn đam. Sách dễ xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu; kinh nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim. HỘI THỨ HAI Biết vậy! Miễn được lòng rồi; chẳng còn phép khác. Gìn tính sáng, tính mới hầu an; nén niềm vọng, niềm dừng chẳng thác. Dứt trừ nhân ngã, thì ra tướng thực kim cương; dừng hết tham sân, mới lảu lòng mầu viên giác. Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương; Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc. Xét thân tâm, rèn tính thức, há rằng mong quả báo phô khoe; cầm giới hạnh, địch vô thường, nào có sá cầu danh bán chác. Ăn rau ăn trái, nghiệp miệng chẳng hiềm thửa đắng cay; vận giấy vận sồi, thân căn có ngại chi đen bạc. Nhược chỉn vui bề đạo đức, nửa gian lều quí nữa thiên cung; dầu hay mến thửa nhân nghì, ba phiến ngói yêu hơn lầu gác. HỘI THỨ BA Nếu mà cóc, tội ắt đà không, phép học lại thông. Gìn tính sáng mựa lạc tà đạo; sửa mình học cho phải chính tông. Chỉn Bụt là lòng, xá ướm hỏi đòi cơ Mã tổ; vong tài đối sắc ắt tìm cho phải thói Bàng công. Áng tư tài tính sáng chẳng tham, há vì ở Cánh-diều Yên-tử; răn thanh sắc niềm dừng chẳng chuyển, lọ chi ngồi am Sạn non Đông. Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc; sơn lâm chẳng cóc, họa kia thực cả đồ công. Nguyền mong thân cận minh sư, quả bồ đề một đêm mà chín; phúc gặp tình cờ tri thức, hoa Ưu Đàm mấy kiếp đơm bông. HỘI THỨ TƯ Tin xem! Miễn cóc một lòng; thì rồi mọi hoặc. Chuyển tam độc mới chứng tam thân; đoạn lục căn nên trừ lục tặc. Tìm đường hoán cốt, chỉn sá hay phục thuốc luyện đơn; hỏi phép chân không, hề chi lánh ngại thanh chấp sắc. Biết chân như, tin bát nhã, chớ còn tìm Phật, Tổ Tây Đông; chứng thực tướng, ngỏ vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiền Nam Bắc. Xem tam tạng giáo, ắt học đòi thiền uyển thanh quy; đốt ngũ phận hương, chẳng tốn đến chiên đàn chiêm bặc. Tích nhân nghì, tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích-ca; cầm giới hạnh, đoạn ghen tham, chỉn thực ấy là Di-lặc. HỘI THỨ NĂM Vậy mới hay: Bụt ở cong nhà; chẳng phải tìm xa. Nhân khuây bản nên ta tìm Bụt; đến cóc hay chỉn Bụt là ta. Thiền ngỏ năm câu, nằm nhãn cong quê Hà hữu; kinh xem ba bận, ngồi ngơi mái quốc Tân-la. Cong đạo nghĩa, khoảng cơ quan, đà lọt lẫn trường kinh cửa tổ; lánh thị phi, ghê thanh sắc, ngại chơi bời dặm liễu đường hoa. Đức Bụt từ bi, mong nhiều kiếp nguyền cho thân cận; ơn Nghiêu khoáng cả, lọt toàn thân phô việc đã tha. Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa, hoặc chằm hoặc xễ; cơm cùng cháo đói no đòi bữa, dầu bạc dầu thoa. Ngăn bát thức, nén bát phong, càng đè càng bội; lãy tam huyền, nông tam yếu, một cắt một ma. Cầm vốn thiếu huyền, sá đàn dấu xoang vô sinh khúc; địch chẳng có lỗ, cũng phiếm chơi xướng thái bình ca. Lãy cội tìm cành, còn khá tiếc Cu-chi trưởng lão; quay đầu chớp bóng, ắt kham cười Diễn-nhã-đạt-đa. Lọt quyển kim cương, há mặt hầu thông nên nóng; nuốt bồng lật cức, nào tay phải xước tượng da. HỘI THỨ SÁU Thực thế! Hãy sá vô tâm, tự nhiên hợp đạo. Dừng tam nghiệp mới lặng thân tâm; đạt một lòng thì thông tổ giáo. Nhận văn giải nghĩa, lạc lài nên thiền khách bơ vơ; chứng lý tri cơ, cứng cát phải nạp tăng khôn khéo. Han hữu lậu han vô lậu, bảo cho hay the lọt duộc thưng; hỏi đại thừa hỏi tiểu thừa, thưa thẳng tắt lòi tiền tơ gáo. Nhận biết làu làu lòng vốn, chẳng ngại hề thời tiết nhân duyên; chùi cho vặc vặc tính gương, nào có nhuốm căn trần huyên náo. Vàng chưa hết quặng, sá tua chín phen đúc chín phen rèn; lộc chẳng còn tham, miễn được một thì chay một thì cháo. Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm; ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu. Tham thiền kén bạn, nát thân mình mới khá hồi ân; học đạo thợ thầy, dọt xương óc chưa thông của báo. HỘI THỨ BẢY Vậy mới hay: Phép Bụt trọng thay; rèn mới cóc hay. Vô minh hết bồ đề thêm sáng; phiền não rồi đạo đức càng say. Xem phỏng lòng kinh, lời Bụt thốt dễ cho thấy dấu; học đòi cơ tổ, sá thiền không khôn chút biết nay. Cùng căn bản, rữa trần duyên, mựa để mấy hào ly đương mặt; ngã thắng tràng, viên tri kiến, chớ cho còn họa trữ cong tay. Buông lửa giác ngộ, đốt hoại thảy rừng tà ngày trước; cầm kiếm trí tuệ, quét cho không tính thức thuở nay. Vâng ơn thánh, xót mẹ cha, thờ thầy học đạo; mến đức cồ, kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay. Cảm đức từ bi, để nhiều kiếp nguyền cho thân cận; đội ơn cứu độ, nát muôn thân thà chịu đắng cay. Nghĩa hãy nhớ, đạo chăng quên, hương hoa cúng xem còn nên thảo; miệng rằng tin, lòng lại lỗi, vàng ngọc thờ cũng chửa hết ngay. HỘI THỨ TÁM Chưng ấy: Chỉn sá tua rèn; chớ nên tuyệt học. Lay ý thức chớ chấp trằng trằng; nén niềm vọng mựa còn xóc xóc. Công danh mảng đắm, ấy toàn là những đứa ngây thơ; phúc tuệ gồm no, chỉn mới khá nên người thực cóc. Dựng cầu đò, giồi chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu; săn hỷ xả, nhuyến từ bi, nội tự tại kinh lòng hằng đọc. Rèn lòng làm Bụt, chỉn sá tua một sức giồi mài; đãi cát kén vàng, còn lại phải nhiều phen lừa lọc. Xem kinh đọc lục, làm cho bằng thửa thấy thửa hay; trọng Bụt tu thân, dùng mựa lỗi một tơ một tóc. Cùng nơi ngôn cú, chỉn chăng hề một phút ngại lo; lật thửa cơ quan, mà còn để tấm hơi lọt lọc. HỘI THỨ CHÍN Vậy cho hay: Cơ quan tổ giáo, tuy khác nhiều đàng, chẳng cách mấy gang. Chỉn sá nói từ sau Mã Tổ; ắt đã quên thuở trước Tiêu Hoàng. Công đức toàn vô, tính chấp si càng thêm lỗi; quách nhiên bất thức, tai ngu mãng ắt còn vang. Sinh Thiên Trúc, chết Thiếu Lâm, chôn dối chân non Hùng Nhĩ; thân bồ đề, lòng minh kính, bày dơ mặt vách hành lang. Vương lão chém mèo, lượt trẩy lòng ngừa thủ tọa; thầy Hồ khua chó, trỏ xem trí nhẹ con giàng. Chợ Lư Lăng gạo mắc quá ưa, chẳng cho mà cả; sở Thạch Đầu đá trơn hết tấc, khôn đến thưa đang. Phá táo cất cờ, đạp xuống dấu thiêng thần vật; Cu Chi dơ ngón, dùng đòi nếp cũ ông ang. Lưỡi gươm Lâm Tế, nạng Bí Ma, trước nạp tăng no dầu tự tại; sư tử ông Đoan, trâu thầy Hựu, răn đàn việt hượm sá nghênh ngang. Đưa phiến tử, cất trúc bề, nghiệm kẻ học cơ quan nhẹ nhẵn; xô hòn cầu, cầm mộc thược, bạn thiền hòa chước móc khoe khoang. Thuyền tử rà chèo, dòng xanh chửa cho tịn tẩy; Đạo Ngô múa hốt, càn ma dường thấy quái quàng. Rồng Yển lão nuốt càn khôn, ta xem chỉn lệ; rắn Ông Tồn ngang thế giới, người thấy ắt giang. Cây bách là lòng, thác ra trước phải phương Thái bạch; bính đinh thuộc hỏa, lại trở sau lỗi hướng thiên cang. Trà Triệu lão, bánh Thiều dương, bầy thiền tử hãy còn đói khát; ruộng Tào khê, vườn Thiếu thất, chúng nạp tăng những để lưu hoang. Gieo bó củi, nẩy bông đèn, nhân mang mới nết; lộc đào hoa, nghe tiếng trúc, mặc vẻ mà sang. HỘI THỨ MƯỜI Tượng chúng ấy: Cóc một chân không; dùng đòi căn khí. Nhân lòng ta vướng chấp khôn thông; há cơ tổ nay còn thửa bí. Chúng Tiểu thừa cóc hay chửa đến, Bụt sá ngăn Bảo sở hóa thành; đấng Thượng Sĩ chứng thực mà nên, ai ghẻ có sơn lâm thành thị. Núi hoang rừng quạnh, ấy là nơi dật sĩ tiêu dao; chiền vắng am thanh, chỉn thực cảnh đạo nhân du hý. Ngựa cao tán cả, Diêm Vương nào kể đứa nghênh ngang; gác ngọc lầu vàng, ngục tốt thiếu chi người yêu quý. Chuộng công danh, lồng nhân ngã, thực ấy phàm ngu; say đạo đức, dời thân tâm, định nên thánh trí. Mày ngang mũi dọc, tướng tuy lạ xem ắt bẳng nhau; mặt thánh lòng phàm, thực cách nhẫn vàn vàn thiên lý. KỆ KẾT THÚC Cư trần lạc đạo thả tùy duyên. Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên. Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch; Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.