辭北堂書 唐 洞山良价 伏聞諸佛出世,皆從父母而受身;萬彙與生,盡假天地而覆載。故非父母而不生,無天地而不長,盡沾養育之恩,具受負載之德。嗟夫!一切含識,萬象形儀,皆屬無常,未離生滅。雖則乳哺情至,養育恩深,若把世賂供資,終難報答,作血食侍養,安得久常?故《孝經》云:「雖日用三牲之養,猶不孝也。」相牽沉沒,永入輪回。欲報罔極深恩,莫若出家功德。載生死之愛河,越煩惱之苦海,報千生之父母,答萬劫之慈親。三有四恩,無不報矣。故經云:「一子出家,九族生天。」 良价捨今世之身命,誓不還家,將永劫之根塵,頓明般若。伏惟心開喜捨,意莫攀緣,學淨飯之國王,摩耶之聖后,他時異日,佛會相逢。此日今時,且相離別,良非遽違甘旨,蓋時不待人。故云此身不向今生度,更向何時度此身?伏冀尊懷莫相寄憶! (一) 未了心源度數春,翻嗟浮世慢逡巡。 幾人得道空門裏,獨我淹留在世塵。 謹具尺書辭眷愛,愿明大法報慈恩。 不須洒淚頻相憶,誓似當初無我身。 (二) 巖下白雲常作伴,峰前碧障以為鄰。 免干世上名與利,永別人間愛與憎。 祖意直教言下曉,玄微須透句中真。 合門親戚要相見,直待當來證果因。 後寄北堂書 唐 洞山良价 良价自離甘旨杖錫南遊,星霜已換於十秋,歧路俄經於萬里。伏惟娘子收心慕道,攝意歸空,休懷離別之情,莫作倚門之望。家中家事,但且隨時,轉有轉多,日增煩惱。 阿兄勤行孝順,須求水裡之魚,小弟竭力奉承,亦泣霜中之虯。夫人居世上,修己行孝,以合天心;僧有空門,慕道參禪,而報慈德。今則千山萬水,杳隔二途。一紙八行,聊伸寸意。 不求名利不求儒,愿樂空門捨俗徒。 煩惱盡時愁火滅,恩情斷處愛河枯。 六根戒定香風引,一念無生慧力扶。 為報北堂休悵望,譬如死了譬如無。 附娘回書 我與汝夙有因緣,始結母子恩愛情分。自從懷孕,禱神佛,願生男兒。胞胎月滿,性命絲懸。得遂愿心,如珠寶惜,糞穢不嫌於臭惡,乳哺不倦於辛勤。稍自成人,遂令習學。或暫逾時不歸,便作倚門之望。 來書堅要出家,父亡母老,兄薄弟寒,吾何依賴?子有拋孃之意,娘無捨子之心。一自汝住他方,日夜常洒悲淚。苦哉!苦哉! 今既誓不還鄉,即得從汝志,不敢望汝如王祥臥冰,丁蘭刻木,但如目蓮尊者度我,下脫沉淪,上登佛果。如其不然,幽譴有在,切宜體悉! Từ bắc đường thư Đường Động sơn lương giới Phục văn chư phật xuất thế, giai tòng phụ mẫu nhi thụ thân; vạn hối dữ sinh, tận giả thiên địa nhi phúc tái. cố phi phụ mẫu nhi bất sinh, vô thiên địa nhi bất trường, tận triêm dưỡng dục chi ân, cụ thụ phụ tái chi đức. ta phu! nhất thiết hàm thức, vạn tượng hình nghi, giai thuộc vô thường, vị ly sinh diệt. tuy tắc nhũ bộ tình chí, dưỡng dục ân thâm, nhược bả thế lộ cung tư, chung nan báo đáp, tác huyết thực thị dưỡng, an đắc cửu thường? cố 《 hiếu kinh 》 vân: " tuy nhật dụng tam sinh chi dưỡng, do bất hiếu dã." tương khiên trầm một, vĩnh nhập luân hồi. dục báo võng cực thâm ân, mạc nhược xuất gia công đức. tái sinh tử chi ái hà, việt phiền não chi khổ hải, báo thiên sinh chi phụ mẫu, đáp vạn kiếp chi từ thân. tam hữu tứ ân, vô bất báo hĩ. cố kinh vân: " nhất tử xuất gia, cửu tộc sinh thiên." Lương giới xá kim thế chi thân mệnh, thệ bất hoàn gia, tương vĩnh kiếp chi căn trần, đốn minh bàn nhược. phục duy tâm khai hỉ xá, ý mạc phàn duyên, học tịnh phạn chi quốc vương, ma da chi thánh hậu, tha thì dị nhật, phật hội tương phùng. thử nhật kim thì, thả tương ly biệt, lương phi cự vi cam chỉ, cái thì bất đãi nhân. cố vân thử thân bất hướng kim sinh độ, canh hướng hà thì độ thử thân? phục ký tôn hoài mạc tương ký ức! ( nhất ) vị liễu tâm nguyên độ số xuân, phiên ta phù thế mạn thuân tuần. kỷ nhân đắc đạo không môn lý, độc ngã yêm lưu tại thế trần. cẩn cụ xích thư từ quyến ái, nguyện minh đại pháp báo từ ân. bất tu sái lệ tần tương ức, thệ tự đương sơ vô ngã thân. ( nhị ) nham hạ bạch vân thường tác bạn, phong tiền bích chướng dĩ vi lân. miễn cán thế thượng danh dữ lợi, vĩnh biệt nhân gian ái dữ tăng. tổ ý trực giáo ngôn hạ hiểu, huyền vi tu thấu cú trung chân. hợp môn thân thích yếu tương kiến, trực đãi đương lai chứng quả nhân. Hậu ký bắc đường thư Đường Động sơn lương giới Lương giới tự ly cam chỉ trượng tích nam du, tinh sương dĩ hoán vu thập thu, kỳ lộ nga kinh vu vạn lý. phục duy nương tử thu tâm mộ đạo, nhiếp ý quy không, hưu hoài ly biệt chi tình, mạc tác ỷ môn chi vọng. gia trung gia sự, đãn thả tùy thì, chuyển hữu chuyển đa, nhật tăng phiền não. A huynh cần hành hiếu thuận, tu cầu thủy lý chi ngư, tiểu đệ kiệt lực phụng thừa, diệc khấp sương trung chi cầu. phu nhân cư thế thượng, tu kỷ hành hiếu, dĩ hợp thiên tâm; tăng hữu không môn, mộ đạo tham thiền, nhi báo từ đức. kim tắc thiên sơn vạn thủy, yểu cách nhị đồ. nhất chỉ bát hành, liêu thân thốn ý. bất cầu danh lợi bất cầu nho, nguyện nhạc không môn xá tục đồ. phiền não tận thì sầu hỏa diệt, ân tình đoạn xử ái hà khô. lục căn giới định hương phong dẫn, nhất niệm vô sinh tuệ lực phù. vi báo bắc đường hưu trướng vọng, thí như tử liễu thí như vô. Phụ nương hồi thư ngã dữ nhữ túc hữu nhân duyên, thủy kết mẫu tử ân ái tình phân. tự tòng hoài dựng, đảo thần phật, nguyện sinh nam nhi. bào thai nguyệt mãn, tính mệnh ti huyền. đắc toại nguyện tâm, như châu bảo tích, phẩn uế bất hiềm vu xú ác, nhũ bộ bất quyện vu tân cần. sảo tự thành nhân, toại lệnh tập học. hoặc tạm du thì bất quy, tiện tác ỷ môn chi vọng. lai thư kiên yếu xuất gia, phụ vong mẫu lão, huynh bạc đệ hàn, ngô hà y lại? tử hữu phao nương chi ý, nương vô xá tử chi tâm. nhất tự nhữ trụ tha phương, nhật dạ thường sái bi lệ. khổ tai! khổ tai! kim ký thệ bất hoàn hương, tức đắc tòng nhữ chí, bất cảm vọng nhữ như vương tường ngọa băng, đinh lan khắc mộc, đãn như mục liên tôn giả độ ngã, hạ thoát trầm luân, thượng đăng phật quả. như kỳ bất nhiên, u khiển hữu tại, thiết nghi thể tất! THƯ TỪ BIỆT MẸ Được nghe: Chư Phật nhiều đời đều từ cha mẹ mà có thân, vạn loài hữu tình đều do đất trời che chở. Cho nên không có cha mẹ thì chẳng thể sanh; không có đất trời thì chẳng khôn lớn. Tất cả đều thấm nhuần ân dưỡng dục, thọ nhận đức bao dung. Than ôi! Tất cả loài hàm linh, cho đến vạn tượng hữu tình đều vô thường, chưa lìa sanh diệt. Thế thì tình bú mớm thật vô cùng, ân dưỡng dục thật cao sâu. Dù dùng trân vị thế gian cung dưỡng cũng khó đáp đền; dù lấy máu thịt thân mình cúng dâng há đâu vẹn báo! Cho nên, Hiếu kinh có dạy: “Tuy một ngày dùng ba con trâu để dâng cũng còn bất hiếu”. Bởi vì cùng dắt nhau chìm đắm, vĩnh kiếp luân hồi. Như vậy, muốn báo thâm ân, không gì bằng công đức xuất gia, qua sông ái sanh tử, vượt biển khổ não phiền. Thế mới đền được ân cha mẹ nhiều đời, đáp tình thâm vạn kiếp, Tam hữu Tứ ân đồng báo trả. Như kinh dạy: “Một người con xuất gia thì chín họ được sanh Thiên”. Lương Giới quyết xả bỏ thân mạng đời này, thề chẳng về nhà. Ngay nơi căn trần vĩnh kiếp mà đốn khai Phật huệ. Cầu mong cha mẹ rộng lòng tha thứ, ý chớ phan duyên. Hãy học theo vua Tịnh Phạn và Thánh mẫu Ma-gia, mai sau sẽ gặp nhau nơi Phật hội, còn ngày hôm nay tạm thời ly biệt. Chẳng phải con không cung hiếu song thân, bởi vì thời gian chờ đợi người. Cho nên Cổ đức có câu: “Chẳng ngay nơi đời này mà độ thân, còn chờ đợi đến bao giờ mới độ được?” Kính mong cha mẹ khắc ghi, chớ đem lòng luyến nhớ! Chưa liễu nguồn tâm trải mấy Xuân Than ôi phù thế mãi xoay vần! Bao người đạt đạo nơi cửa Phật Mình ta chìm đắm ở thế trần Kính dâng thư này từ quyến thuộc Nguyện xong Đại pháp báo từ ân Chẳng nên than khóc, thôi bi luyến Cũng giống như xưa chẳng có thân Mây trắng bên non thường làm bạn Vách cao trước núi ấy tương lân Lợi danh thế sự không can dự Yêu, ghét nhân gian miễn luận bàn. Tổ ý ngay lời liền thể hội Huyền vi trong cú thấu nguồn chân Toàn gia thân thích cần gặp mặt Đợi đến mai sau chứng qủa nhân. THƯ GỬI MẸ (II) Lương Giới từ khi lìa xa Từ mẫu, cất bước về Nam, đến nay thấm thoát đã 10 năm, hành trình chập chùng trải qua vạn dặm. Cầu mong Người ở nhà nên lắng tâm tu đạo, nhiếp ý về không. Hãy dứt đi nỗi sầu ly biệt, chẳng nên tựa cửa ngóng trông. Việc nhà, mẹ hãy tùy thời tùy lúc mà làm, lo lắng bận rộn chỉ tăng thêm phiền não! Anh Cả thì nên siêng năng hiếu thuận, như Vương Tường khổ tìm cá trong băng lạnh; em nhỏ thì dốc sức phụng thừa, như Mạnh Tông khóc tìm măng nơi sương tuyết. Phàm, người sống trên đời phải tu thân, hành hiếu thuận để hợp đạo trời, còn hàng Tăng lữ nương chốn “Không môn”, mến đạo tham thiền, như thế mới mong báo đền thâm ân dưỡng dục. Nay thì ngàn núi trăm sông, chia cách đôi đường, chỉ có thể tỏ bày tấc lòng trên trang giấy: Chẳng cầu danh lợi, chẳng cầu vinh Vui chốn Không môn bỏ thế tình Não phiền trừ sạch, sầu bi dứt Tình thâm đoạn bỏ, ái tâm khinh Sáu căn thanh tịnh hương lan tỏa Nhất niệm vô sanh huệ hiển minh Mong cho thân mẫu thôi luyến nhớ Xem như đã chết, hoặc không sinh. THƯ TRẢ LỜI CỦA MẸ Ta cùng ông vốn có duyên đời trước, cho nên đời này mới kết thành tình thâm mẫu tử. Từ khi mới mang thai, ngày đêm ta mãi cầu thần khẩn Phật nguyện ước sanh được con trai. Đến lúc tháng ngày đã đủ, hạ sanh ra ông thì mạng ta như chỉ mành. Ước nguyện đã thành, ta quí con như trân bảo, chẳng hiềm phân tiểu hôi dơ, nào ngại bú mớm lao khổ. Đến khi vừa lớn thì cho đến trường học tập, hoặc như có lúc tạm thời đi chưa về thì tựa cửa ngóng trông. Hôm nay, ông gởi thư về quyết chí xuất gia, ở nhà cha thì mất sớm, mẹ thì già nua, anh thì ốm đau, em thì còn nhỏ, ta biết nương tựa vào ai? Con có tâm bỏ mẹ, mẹ nào có ý xa con! Từ khi ông bỏ nhà đến phương xa, thì lòng ta ngày đêm đau như cắt, than khóc buồn lo. Khổ thay! Khổ thay! Nay ông đã thề chẳng trở về, ta cũng thuận chí theo ông. Ta chẳng cầu mong ông như Vương Tường nằm trên băng tuyết, hay Đinh Lan khắc tượng gỗ, mà chỉ mong ông như tôn giả Mục-kiền-liên độ mẹ thoát khỏi trầm luân, chứng thành Phật quả. Nếu chẳng được như thế, thì mãi mãi thầm trách, tha thiết mong ông hiểu được!